Join MultiplyOpen a Free ShopSign InHelp
MultiplyLogo
SEARCH

ghi chép

Blog EntryMay 15, '12 1:15 PM
for everyone

Tôi chép bài thơ “One Cigarette” của  Edwin Morgan, một nhà thơ Tô cách lan mới chết cách đây hai năm, vào http://translate.google.com và  biểu nó dịch sang tiếng Việt. Trong nháy mắt, mà có khi nhanh hơn cả cái nháy mắt, bản dịch tiếng Việt hiện trên màn hình máy tính, song song với nguyên tác.  Tôi bấm vào hình cái loa ở cuối trang và một giọng đàn ông đọc (giọng mũi như Tây) toàn bài thơ, nghe ngộ ngộ, buồn cười.  Tôi nghe lại, không còn buồn cười cái giọng mũi và nhịp đều đều  của máy nữa, bỗng thấy hay hay, vì những câu Google dịch khiến  tôi liên tưởng đến những bài thơ của không ít nhà thơ Việt Nam đương đại. Thử đọc bản dịch khi còn mù nguyên tác:
Không có khói  không  bạn, lửa của tôi.
Sau khi bạn rời đi,
thuốc lá của bạn tỏa sáng trong cái gạt tàn 
của tôi
và gửi lên một chủ đề dài màu xám yên tĩnh như vậy
Tôi mỉm cười tự hỏi ai sẽ tin rằng tín hiệu của nó
tình yêu rất nhiều. một điếu thuốc lá
trong khay không hút thuốc.
Khi ngọn tháp cuối cùng
run sợ, một dự thảo đột ngột
thổi quanh co vào mặt tôi.
 nó có mùi, hương vị?
Bạn đang ở đây một lần nữa, và tôi say rượu trên môi thuốc  của bạn.
Ra với ánh sáng.
Hãy làm khói nằm trong bóng tối.
Cho đến khi tôi nghe thấy tro rất
thở dài xuống giữa những bông hoa bằng đồng
Tôi sẽ thở,  nửa đêm dài, nụ hôn cuối cùng của bạn.”
 Tôi không bình luận thơ hay dở, hay đây có phải thơ không.  Tôi chỉ nói chuyện dịch thuật. À, nên mở ngoặc một chút: “One Cigarette” là một bài thơ nổi tiếng và Edwin Morgan  là một nhà thơ lỗi lạc của xứ Scotland, được vinh danh Thi Bá xứ Glasgow ( tôi dịch đại Poet Laureate, Google để nguyên cặp từ này)  và Thi sĩ Quốc gia Tô cách lan. 

Edwin Morgan  là người đầu tiên được tôn vinh trong cả hai danh hiệu này. Nghĩa là khi người ta bày ra giải thưởng và danh xưng đó, người ta trao trước tiên cho Edwin Morgan . Lý do chú giải là để khẳng định rằng giá trị văn học của nguyên tác đã được khẳng định. Xin phép đóng ngoặc.
Google dịch và cho phép người ta sửa chữa, thêm bớt bản dịch, lại còn hổ trợ tự điển và tu từ. Mình không ưng câu chữ nào thì  xỉa con trỏ vào đó, sẽ hiện ra một dọc từ/cụm từ  khác để mình lựa chọn, hoặc tự đánh câu chữ của mình thay vô, hoặc kéo chữ ngược xuôi nếu muốn đảo ngữ, đảo câu. Lưu ý là khi mình sửa rồi thì cái thằng Google chôm luôn bản sửa của mình. Hễ mình biểu nó dịch lại câu đó, thì nó dịch y chang câu mình sửa. Tức là nó không  có tự ái chút nào, cứ máy móc dịch vậy đó, ai dịch khác đi, nó ô kê theo luôn. Như thoạt nhìn cái tựa “một thuốc lá”,  tôi sửa ngay thành  “Một điếu thuốc lá”. Nhưng theo tứ thơ thì  có thể là một “hơi thuốc lá” hay “tàn thuốc lá” , hay ẩn dụ cái khác nữa, chứ không nhứt thiết phải  “một điếu”. Vả lại thơ mà, ngữ pháp chỉn chu  từ cái tựa trở đi thì còn gì là thơ. Nên  tôi nghĩ “một thuốc lá” được chớ, như  Trần Tế Xương vẫn viết  “Một trà, một rượu,…” ấy.   Tôi bèn phục  hồi bản dịch của Google, nhưng dù  tôi xóa bản dịch đã bị  tôi sửa lung tung, rồi bấm “translate” cho nó dịch lại, nó vẫn cứ hiện ra bản tôi đã sửa. Thiệt là máy!
 Thực ra ban đầu  tôi  “sửa” những chỗ mà  tôi cho là sai rành rành, chẳng hạn “In the non-smoker’s tray”là  “Trong cái gạt tàn của người không hút thuốc” chứ không phải “Trong khay không hút thuốc”. Nhưng đọc lại giật mình, người không hút thuốc sao lại có cái gạt tàn?  Mỗi câu mỗi chữ trong bài thơ đều được chọn lọc và hàm những tầng lớp ý nghĩa mà đọc một lần rồi đọc lại và đọc lại nữa, rồi ngẫm nghĩ, và tùy tâm trạng và điều kiện thời gian môi trường mà mình cảm nhận khác nhau. Đọc qua lần đầu,  tôi nghĩ tác giả miêu tả trạng thái còn ngây ngất sau khi người tình ra về, để lại mẫu thuốc lá cháy rụi trong cái gạt tàn mà tác giả mượn làm cái cớ để gợi lên ký ức mới đó, để nhấn nhá dư vị của nó.
Nhưng tóm tắt bài thơ như vậy không khác nói rằng Truyện Kiều kể chuyện 15 năm lăn lóc của một cô gái giang hồ. Tất cả giá trị  bản dịch Kiều của Nguyễn Du không phải ở sự chuyển tải nội dung đó, mà ở 3218 câu thơ mà nhà thơ đã gởi vào đó tâm hồn suy tư trải nghiệm và tài hoa của mình. Dịch như Nguyễn Du dịch Truyện Kiều mới gọi là dịch tác phẩm văn học: dịch giả là đồng tác giả trong sáng tác nghệ thuật. Chứ không chỉ là người chuyển ngữ một văn bản. Nhưng có lẽ ba trăm năm mới có một Nguyễn Du.
Đành chấp nhận những “dịch giả” kiểu Google. Cứ mù nguyên tác mà đọc: “Khi ngọn tháp cuối cùng
run sợ, một dự thảo đột ngột / Hãy làm khói nằm trong bóng tối/Cho đến khi tôi nghe thấy trocũng có vẻ thơ hậu hiện đại chớ! (Mặc dù Edwin Morgan được coi là nhà thơ hiện đại). Chắc gì  tôi dịch lại mà hay hơn. Họa may có thêm một “bài thơ” tiếng Việt khác trong cố gắng diễn dịch lại bài thơ tiếng Anh qua cảm nhận của mình. Nhưng  tôi không dại. Google dịch  sao đi nữa đố ai làm gì nó, và hàng triệu người xài nó mà không ý thức, hoặc không bận tâm, đến những “thãm họa” đầy dẫy trong từng câu một.


Blog EntryMay 12, '12 1:55 PM
for everyone

Bellingham là một thành phố nhỏ dân số chừng trăm ngàn người, có lịch sử khoảng 200 năm, khu được coi là di tích lịch sử có những ngôi nhà “cổ” cỡ 150 tuổi đổ lại. Xóm  tôi ở phần lớn nhà được xây trong khoảng năm 1910-1920, chủ yếu bằng gỗ. Thời đó xứ này còn nhiều rừng, khai thác chế biến gỗ là ngành kinh tế quan trọng nhứt. Khu dân cư này vốn được thiết kế như xóm bình dân, mỗi nhà rộng khoảng 70 đến 150 mét vuông, nằm biệt lập trên một miếng đất nhỏ cỡ  450 mét vuông, phía trước có sân phía sau có vườn. Vườn sau thường trồng cây táo, lê hay mận. Sân trước hầu như mặc định trồng cỏ. Dù mặt tiền mỗi nhà một kiểu, tất cả các sân trước đều y chang nhau: những thảm cỏ xanh mướt  nối nhau liền lạc trải dài mút dãy phố. Có khác chăng là cỏ nhà hàng xóm có vẻ xanh hơn cỏ nhà mình.
Ngay từ lúc mới dọn vào  tôi đã nghĩ mảnh sân trước nhà là chỗ lý tưởng lập vườn rau. Nhưng ông chồng không muốn phá vỡ cảnh quan đặc thù của khu dân cư Mỹ. Ổng bảo bãi cỏ là cái không thể thiếu của một ngôi nhà Mỹ. Chiều chiều ông chủ nhà xách cái máy cắt cỏ chạy ầm ầm quanh nhà mới cảm thấy mạnh mẽ quyền sở hữu trên miếng đất của mình! Một bà tiến sĩ môi trường đã ước tính trên toàn nước Mỹ có tổng cộng 128.000 Km vuông đất trồng cỏ để chơi, bao gồm cả bãi cỏ sân golf, sân banh, công viên và bãi cỏ của từng nhà. Diện tích đó lớn hơn cả diện tích trồng bắp có hệ thống tưới tiêu ở Mỹ.  Mỗi năm người Mỹ tiêu 17 tỷ đô la cho bãi cỏ gồm mua sắm các giống cỏ, phân bón, thuốc trừ sâu, nước và hệ thống tưới tiêu, dụng cụ máy móc cắt cỏ, nhiên liệu chạy máy, thời gian công sức hoặc thuê mướn người chăm sóc bãi cỏ thay cho mình. Nghề cắt cỏ mướn kiếm tiền không tệ: khoảng 26 triệu gia đình thường xuyên sử dụng dịch vụ của các công ty cắt cỏ chuyên nghiệp.
 Thực tình ngày xưa  tôi rất yêu cỏ.   Bây giờ cũng còn yêu. Có những ban mai  tôi bắc ghế ngồi ngay cửa chính nhìn ra bãi cỏ trước nhà còn phủ sương giá trắng xóa, chờ nắng lên, sương tan dần, cỏ vươn lên xanh mướt, cảm thấy lòng bình yên, nhẹ nhàng, niềm hy vọng trồi lên, cuộc sống như bắt đầu lại với một ngày mới. Năm 2008  tôi về Việt Nam ở một thời gian dài, mười mấy tháng, nhiều khi nhớ nhà ở Mỹ là nhớ những buổi sáng ngồi nhìn nắng long lanh trên ngọn cỏ và những buổi chiều bãi cỏ in bóng ngôi nhà trườn  dài theo nắng xế. Đến khi  tôi trở lại, trên đường từ phi trường về nhà,  tôi bình tâm chờ đến đầu ngõ để nhìn thấy màu cỏ xanh thanh thản bên lối đi lên những bậc thềm gỗ của ngôi nhà nhỏ.  
Nhưng ô hay, bãi cỏ đã bị đào bới lem nhem, trông như thể ai đó vừa xới đất lên để tìm kiếm cái gì đã đánh mất. Ông chồng hớn hở nói: “Đây là món quà mừng em trở về. Một mảnh vườn để em trồng rau. Chẳng phải ngay từ đầu em đã muốn có một vườn rau trước ngõ?” Ừ thì  tôi từng muốn vậy. Nhưng chuyện gì đã xảy ra? Ngó qua hàng xóm, bãi cỏ nhà hai bên vẫn xanh, nhưng trước ngôi nhà cách đó ba căn đã xuất hiện một mảnh vườn hình chữ nhật trồng nào cà chua, hành ngò, rau thơm, cải các loại. Phía cuối phố, ngôi nhà ngay góc đường đã biến phần lớn bãi cỏ thành vườn, chỉ chừa lại một khoảnh xanh để đặt một cái xích đu. Bên kia đường, mảnh vườn của ngôi nhà khuất sau cây liễu có cả bộ khung hình chữ U ngược để ban đêm kéo một tấm chăn trùm lại. Và không chỉ riêng ở phố này, nhiều nơi khác trong thành phố cũng có hiện tượng biến bãi cỏ thành vườn rau.
Nhưng không phải ai cũng đào xới lem nhem như mảnh sân trước nhà  tôi. Cũng không phải ai cũng ra siêu thị sắm một bộ khung gỗ hình chữ nhật và mấy bao đất về dựng trong chớp mắt một vườn rau giữa bãi cỏ. Nhiều người, chắc tốn cả ngàn đô, chở về nào đá to đá nhỏ, nào chậu sành chậu gốm, lại còn đào ao, dựng cổng, trồng xen hoa cỏ (ăn được) với các thứ rau cải có ngoại hình so sánh được với cây kiểng. Đại khái họ lập một vườn kiểng ăn được (edible landscape) vừa để tăng thẫm mỹ ngôi nhà vừa để hưởng ứng phong trào ăn rau tươi do đệ nhứt phu nhân Michelle Obama phát động.
Quanh tòa Nhà Trắng là những bãi cỏ xanh mênh mông, đương nhiên cần nhiều nhân công chăm sóc giữ gìn. Hồi thế chiến thứ nhứt xảy ra, tổng thống nước Mỹ lúc đó là Woodrow Wilson muốn vận động nhân lực và vật lực cho cuộc chiến, đã cho thả một đàn cừu trên bãi cỏ quanh tòa Nhà Trắng, thứ nhứt là cừu ăn cỏ, (để cho người cắt cỏ rảnh tay đi lính), thứ hai là cừu cung cấp len là thứ đang thiếu hụt thời bấy giờ. Len của đám cừu ăn cỏ Nhà Trắng ấy đã được bán đấu giá tới 100.000 đô la! Đại khái, năm 2008 nước Mỹ đang thời suy thoái, Nhà Trắng bèn làm gương biến một khoảnh cỏ thành vườn rau, để tuyên truyền lợi ích của việc trồng rau so với trồng cỏ. Có những người làm theo để ủng hộ. Dĩ nhiên nhiều người vẫn giữ nguyên bãi cỏ và chỉ trích bọn lập vườn. Nhiều người tuy lập vườn nhưng khăng khăng không chịu là mình chạy theo phong trào. Người Mỹ luôn có cả ngàn lý do khác nhau để làm một cái gì đó giống người ta hoặc không giống ai hết. 
Kỷ nghệ cung cấp cây con hột giống và dụng cụ làm vườn phát triển rần rần một dạo. Cứ xuân sang thiên hạ lại hè nhau đào xới trồng trọt. Chỉ cần một ngày ra vườn ươm giống cây mua cây con về cắm xuống đất là ngủ một đêm thức dậy thấy trước nhà mình cũng có vườn rau như ai. Rồi ngày một dài ra, hè sang thiên hạ rủ nhau xuống biển lên núi, vườn rau ở nhà cây gì muốn mọc thì mọc, rau cỏ chen chúc như rừng hoang. Thu đến  mưa dầm dề  trôi hết lớp đất màu mở. Thành thật mà nói, mùa đông nhìn những mảnh vườn lở lói trước nhà sao mà xấu xí đến đau lòng.
Thế là xuân năm sau lại hì hụi cải tạo “cảnh quan” trước nhà. Ông chồng khuân đá về dựng một bức tường thâm thấp để giữ đất. Rồi khuân gỗ về dựng một hàng rào. Ông đi qua đi lại, ngắm tới ngắm lui, ngôi nhà phía sau tường đá thấp thấp và hàng rào gỗ cao cao, bữa nay bẫy cục đá này qua bên nây, bữa sau lăn nó lại chỗ cũ. Rồi ngồi thở dốc nhớ tiếc bãi cỏ ngày xưa. Nhớ mùi cỏ mới cắt ngai ngái, nhớ thảm cỏ vừa cắt xong êm ái bàn chân, mượt mà tầm mắt.    
Nhưng  tôi không muốn đảo ngược lại nữa. Rốt cuộc  tôi đã có một vườn rau trước ngõ. Trãi qua ba mùa trồng trọt, đất đã thuần, nhiều cây lưu niên đã bén rễ sâu, cứ xuân sang lại đâm chồi nảy tược, trổ bông kết trái.  Và khi trời ấm áp  tôi trồng nào rau dền, rau muống, rau cần, tần ô, cải xanh, cải ngọt, cà chua, dưa leo. Chỉ có rau muống hơi bị đẹt, các thứ cải đều ngon lành. Những cây không hái ăn kịp thời hè nhau trổ bông, dụ dỗ ong bướm dập dìu. Nhưng cái chính là mỗi sáng và mỗi chiều bắc ghế ngồi nhìn ra cửa, thấy đám rau cải thân quen mọc lúp xúp, tôi thấy lòng mình bình an, vui vui khi ông đi qua bà đi lại thỉnh thoảng thốt “Vườn rau đẹp quá!”.  

Blog EntryMay 9, '12 1:14 PM
for everyone

Nhằm một ngày trời mây u ám mà đọc một cuốn sách của E.O. Wilson thiệt là nhức cái đầu. Ông này là giáo sư của trường đại học Harvard, tác giả của trên 20 cuốn sách, cuốn  tôi đang mon men đọc là cuốn mới vừa xuất bản, The Social Conquest of Earth. Mới cái tựa là nhức cái đầu rồi: với trình độ Anh ngữ bằng A cũng biết trái đất là “the Earth”, và “Earth” luôn đi với mạo từ xác định “the” vì chỉ có một trái đất, nơi chúng ta đang sống. Ông Wilson là Mỹ chánh hiệu, ổng viết “Earth” không có “the”, ai dám bắt giò ổng viết thiếu? Hẳn là ổng cố ý và có ngụ ý về chữ “Đất” trụi lũi đó. “The Social Conquest” có thể hiểu là cuộc chinh phục xã hội, hay mang tính xã hội/quần thể, và vì có chữ “the” nên hiểu rằng đây chính là chủ đề lớn của quyển sách. (Ôi, xin lỗi đồng bào.  Tôi loay hoay giải thích vì hỗm nay hơi hoảng với những tranh luận um sùm về dịch thuật. Nhưng thôi, chúng ta qua sông và bỏ cái gọi là thãm họa lại mà đi tiếp.)

Bìa của cuốn sách in lại bức tranh nổi tiếng của Paul Gauguin (hẳn nhiên có lý do!). Ông  E.O. Wilson viết trong Lời mở đầu:  “ Hãy nhìn kỹ chi tiết của bức tranh. Nó gồm  một hàng nhân vật dàn trải trước một pha trộn lờ mờ  những núi và biển của phong cảnh Tahiti. Hiện thực lẫn lộn  siêu thực, những nhân vật đó tượng trưng cho vòng đời con người. Họa sĩ chủ ý cho chúng ta ngắm từ phải sang trái. Một trẻ sơ sinh ở góc phải tương trưng cho sự sinh. Một người trưởng thành không rõ rệt giới tính được đặt ngay trung tâm bức tranh, hai cánh tay giơ lên, biểu tượng của sự tư nhận thức cá nhân. Về phía  trái một cặp trẻ đang hái và ăn táo theo  cổ mẫu Adam-và-Eva , sự khát khao  tri thức. Xa hơn về bên trái là tượng trưng sự chết, một bà già co cụm trong đau đớn và tuyệt vọng. (…) Ở góc trái trên cùng của tấm vải vẽ, Gauguin viết cái tên nổi tiếng của bức tranh: D ‘ou` Venons Nous / Que Sommes Nous / Où Allons Nous. Bức tranh không phải là một câu trả lời. Nó là một câu hỏi.”
Chỗ này lại mở ngoặc cho người chưa có trình độ A về hội họa như  tôi. Paul Gauguin là một họa sĩ Pháp, chào đời năm 1848 ở Paris, nơi ông trải qua thời trẻ tuổi như một doanh nhân thành đạt với vợ đẹp con ngoan. Nhưng (bắt chước thái tử Tất Đạt Đa) ông từ bỏ, hay đánh mất tất cả để đi tìm chân lý và theo đuổi đam mê mỹ thuật. Vào cuối năm 1897, Gauguin một mình ở Punaauia, xứ Tahiti, thân tàn ma dại túi không tiền, tự biết mình tới số rồi, Gauguin vẽ bức tranh nói trên, Chúng ta từ đâu tới / chúng ta là cái gì / chúng ta đi đâu, đinh ninh đó là tác phẩm cuối cùng. Sau khi vẽ xong ông đã thủ sẵn thuốc độc đi lên núi để tự tử vì muốn được lũ kiến xơi trước khi bị con người tìm thấy xác. Nhưng rồi ông nghĩ lại, leo xuống núi, lãnh việc của một viên chức cạo giấy, sống vật vờ thêm năm năm nữa rồi chết vì bệnh giang mai. Một chi tiết không liên can đến bức tranh của Gauguin hay cuốn sách của Wilson nhưng hơi dính tới Việt Nam là Gauguin từng nộp đơn xin việc làm ở Tonkin (Bắc kỳ)  sau khi Pháp thuộc địa hóa cả nước Việt Nam, nhưng ông bị từ chối; và thay vì  được  qua Việt Nam, Gauguin bị phái tới xứ Tahati (Polynesia thuộc Pháp) ở giữa Thái Bình Dương mênh mông rồi chết ở đó. Đóng ngoặc.
Trở lại… ừm… bức tranh hay cuốn sách nhỉ? À, cuốn sách.  Chương một có tiểu tựa “The Human Condition”. Chữ “the” đi với chữ “condition” số ít cũng đáng lưu ý. Nhưng hạ hồi phân giải. Tạm dịch là Hoàn cảnh  con người.  Hay Thân phận / Tình thế / Trạng thái / Điều kiện con người, tùy hỉ. Thân phận con người nghe quen tai hơn. Nhưng tiếng Việt hiện thời sính “hoàn cảnh” hơn.  (Xin lỗi, vẫn còn bị ám ảnh cuộc tranh luận về dịch thuật!) Chương này nằm trong phần I với câu hỏi in hoa tổ chảng: TẠI SAO TỒN TẠI ĐỜI SỐNG XÃ HỘI CAO CẤP?
Những câu hỏi mà Gauguin vẽ ra xét cho cùng không thuộc bản quyền của riêng ông. Người ta, ai cũng ít nhứt một lần thắc mắc điều đó, đó là vấn đề cốt lõi của  tôn giáo và triết học. Nhiều người, từ các triết gia  Hy Lạp cổ đại đến gã say ở quán nhậu Sài Gòn hiện đại, cũng giống Gauguin: đặt được những câu hỏi đó là đủ vĩ đại rồi, không mong gì có câu trả lời. Nhưng  E.O. Wilson cho rằng những tiến bộ khoa học, đặc biệt trong hai thập niên qua, đã đủ cho chúng ta có câu trả lời  mạch lạc  vấn đề nguồn cội và bản chất con người. Tuy nhiên, để làm được vậy, ông Wilson cho rằng phải tìm ra giải đáp cho hai câu hỏi căn bản hơn nữa, một là tại sao lại có đời sống xã hội cao cấp,  và tại sao đời sống xã hội cao cấp  rất hiếm trong lịch sử sự sống, hai là những quyền năng điều khiển đã tạo ra đời sống đó có đặc tính gì, làm sao để nhận biết.  
Phần còn lại của cuốn sách đương nhiên là nỗ lực của tác giả nhằm giải đáp những câu hỏi của Gauguin cùng những câu hỏi phát sinh của tác giả. Trong phần CHÚNG TA LÀ CÁI GÌ?  Wilson đặt vấn đề bản chất con người là gì, văn hóa tiến hóa ra sao, nguồn gốc của ngôn ngữ,  tiến hóa của sự đa dạng văn hóa, nguồn gốc của đạo đức và danh dự, nguồn gốc của tôn giáo, và nguồn gốc của nghệ thuật sáng tạo.  Có một khái niệm  tôi nhức cái đầu tìm không ra từ tương đương thích đáng trong tiếng Việt là “eusociality”. Theo Wilson giải thích thì  eusociality là xã hội / quần thể mà một số cá thể tiết giảm tiềm năng sinh sản của mình để nuôi dưỡng con cái kẻ khác. Thí dụ như tổ ong chẳng hạn, trong đó tất cả ong thợ đều vô sinh và chăm sóc ấu trùng do con ong chúa đẻ ra. Đức tính vị tha này, theo ông Wilson, là nền tảng của tổ chức xã hội ở dạng cao cấp nhứt.
Cuốn sách kết thúc với câu hỏi: CHÚNG TA ĐANG ĐI ĐÂU? Câu trả lời của E.O.  Wilson là “A New Enlightenment” có thể dịch là “Một giác ngộ mới” hay “Một cuộc thăng hoa mới” . Nhưng  tôi chưa đọc tới đó. Wilson là một nhà khoa học, không phải triết gia. Cuốn sách trình bày những lý thuyết và chứng cứ khoa học. Dù vậy, mới ra lò nó đã gây tranh cải.  Vụ tranh cải cũng có nhiều cái hay. Nhưng để  tôi đọc tiếp đã. 

Blog EntryApr 27, '12 3:15 PM
for everyone

Cuối cùng qua một khúc quanh trên  sông hiện ra một rừng cột buồm, và chẳng mấy chốc sau đó chúng  tôi neo tàu khá gần Bến Nghé, vùng giáp ranh Sài Gòn, bên bờ Tây của Sông. Tàu của chúng  tôi lập tức bị bao vây bởi hàng trăm “xuồng-con” và những người chèo xuồng, cả đàn ông lẫn đàn bà, nhốn nháo trèo lên tàu mang theo hàng hóa của họ , nhanh chóng tạo thành một cái chợ trên boong tàu.”
Đây là một đoạn văn dịch từ bài báo “A Visit to Saigon” của Walter A. Rose đăng trên Appletons’ Journal. Báo này xuất bản hàng tuần, trụ sở ở New York, với tiêu chí “Văn chương – Khoa học – Nghệ thuật”. Qua đoạn văn trên bạn có đoán được thời điểm ông Rose đến thăm Sài Gòn không? 2012? 1980? 1964? Không. Bạn không tin đâu, nhưng đây là sự thật: tháng 2 năm 1864 – một ngàn tám trăm sáu mươi bốn – chỉ hai năm sau khi Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông. Năm đó Pháp đặt mua một chiếc tàu chạy hơi nước xuất xưởng ở Hong Kong với tên Ville de Hué. Thuyền trường đưa chiếc tàu đến Sài Gòn để giao hàng là bạn thân của ông Rose, và theo như ông viết, ông đã “túm lấy cơ hội để thăm một đất nước mà  tôi tin là rất ít được viết đến trong nửa thế kỷ qua.”

Bài báo kèm theo một bức tranh minh họa không ghi chú tác giả, có thể do chính ông Rose ký họa với ghi chú “Cửa sông Sài Gòn”,  đăng trên Appletons’Journal số 162, ra ngày 4 tháng 5 năm 1872, hiện được giữ trong kho lưu trữ của trường đại học Michigan, Mỹ, có thể truy cập bản điện tử trên internet. ( http://quod.lib.umich.edu/m/moajrnl/acw8433.1-07.162/491:6?rgn=full+text;view=image)  Tranh vẽ nhà cửa đơn sơ bên sông, có ghe xuồng đậu dưới bến, người dắt trâu trên bờ, gà vịt trước sân nhà, cây cối um tùm, trông như cây cau, cây dừa, cây chuối. Không giống lắm, nhưng  tôi nhìn hình có thể đoán được. Như  đoán “ Bingeh” là Bến Nghé, và “Saong” là Sông (Sài Gòn). Nhiều chi tiết khác cũng có nhầm lẫn, chẳng hạn ông tưởng Sài Gòn là của Cam bốt, nên coi người địa phương là người Cam bốt, nhưng qua miêu tả y phục thì  tôi đoán là người Việt : “ quần rộng dài tới mắc các chân, thắt lưng bằng giải rút, áo lót dài tới eo, áo ngoài thường bằng lụa dài tới đầu gối, nút gài bên ngực phải.”  
Chuyến thăm Sài Gòn của ông Rose ngắn ngủi vài ngày, vì sau khi giao con tàu “Ville de Hué”, thuyền trưởng quyết định đi nhờ một con tàu khác vừa từ Singapore cập cảng Sài Gòn và  sẽ tiếp tục hành trình đến Hong Kong, ông Rose đành về theo ông bạn. Không biết những thông tin về địa lý, xã hội, kinh tế, văn hóa mà ông viết trong bài báo xuất bản 10 năm sau là do ông nghiên cứu sau này hay thu thập tại chỗ. Mặc dù có những sai sót dạng “lỗi chính tả”, vẫn đáng ngạc nhiên về sự quan sát và tầm quan tâm của ông. Và nếu không chấp nê quan điểm “thực dân” da trắng  thời ấy của tác giả thì những miêu tả của ông cũng giúp chúng ta hình dung phần nào về Sài Gòn trước khi bị Pháp biến thành một thành phố thuộc địa.
Thành quách vẫn còn, dù đã đổi chủ : “Sau khi đi qua cổng, chúng tôi đến một tòa nhà hình chữ nhật, trước đây là dinh chúa, nằm trên một khoảng đất xinh đẹp ở chính giữa thành, chung quanh có sân rộng, vây quanh bằng hàng rào cao.  Kiến trúc đồ sộ này đứng trên một nền gạch cao hai thước, dài ba mươi thước, rộng hai mươi thước, phần lớn xây bằng gạch, mái lợp ngói tráng men và được trang trí bằng các loài “phi long” thịnh hành ở Trung Hoa. Một cầu thang với những bậc làm bằng gỗ lớn dẫn lên cổng chính. Trước dinh có hai tháp canh  hình vuông, mỗi tháp có một trái chuông  hình nón cụt, dùng chày để dộng chứ không kéo dây. Phía sau,  hoành tráng không kém dinh thự chính, là hậu cung và khu nhà cho kẻ hầu hạ.  (…) Mặc dù bên trong những tòa nhà này, đang bị quân Pháp đồn trú, vẫn còn một ít dấu tích nét tráng lệ nguyên thủy, bàn tay tàn nhẫn của kẻ chiếm đoạt đã xóa đi hầu hết vẻ rực rỡ man rợ.”
Nếu Thành Gia Định ngày nay chẳng còn hồn xác gì nữa thì chợ và không khí chợ vẫn còn sống động, trải qua150 năm hình như không khác mấy: “ Ở đây hàng hóa phân phối hoàn toàn nhờ phụ nữ, phần lớn là những mụ già xấu xí, dù thi thoảng cũng có những gương mặt xinh đẹp lộ ra dưới mái lá nho nhỏ che quầy hàng của mỗi người bán để tránh tia nắng chiếu thẳng của mặt trời nhiệt đới. (…) Thị heo, cá, gạo, trà dường như có nhu cầu lớn nhứt, mặc dù trái cây vô số chủng loại cùng với bánh mứt, rau cải, trứng, gà vịt cũng nhiều. Cá biển được đưa về từ Vũng Tàu vẫn còn sống, được rộng trong những vũng nước trên ghe xuồng của người đánh bắt.” Tác giả ghi nhận là người ta ăn cả thịt cá sấu và nghe nói thịt chó cũng được nhâm nhi mỗi ngày. Ông tỏ ra khách quan viết rằng dân ở đây không uống sữa như đồng bào ông không ăn huyết. Trong cuộc dạo chợ vào ngày đầu tiên đặt chân lên đất Sài Gòn, ông Rose đã bị một bà bán hàng rong dụ mua mấy trái cam. Ông tính ra là với một đô la ông có thể mua hết cả gánh hàng gồm xoài, lựu,  chuối, thơm, đu đủ, bưởi, cam, chanh, ổi, mãng cầu.       
Mấy năm chiếm đóng Sài Gòn, Pháp đã bắt đầu có những xây dựng, chủ yếu khu vực thương mại ở bến cảng. Ông Rose miêu tả khu này : Bến cảng dài hàng dặm dọc bờ sông, nhà xưởng xây theo kiểu châu Âu, nhà ở của người nước ngoài rộng rãi và kiểu cọ, ngay cả nhà của dân bản xứ cũng được xây dựng tốt hơn phía Bến Nghé, một số được xây bằng gạch ngói, cửa hàng bày bán đồ địa phương sản xuất không tinh xảo bằng hàng Trung quốc, cho nên người bán thấy khách bắt mắt món nào là nói ngay món đó nhập từ Trung quốc. Ngoài tiền của dân bản xứ, những ngoại tệ khác cũng được lưu hành như quan Pháp, đô Mễ, Tây Ban Nha song song với vàng thoi bạc nén (có ấn con dấu của triều đình).
Sau khi thăm thành cũ và cảng mới, ông Rose ra ngoại thành, đến một ngôi chùa cổ xây bằng gạch mái lợp ngói trên một gò đất nhân tạo, trong một khung cảnh thiên nhiên lãng mạn. Ông được một nhà sư có hàm râu dê đón tiếp, dẫn vào hậu liêu, nơi bày biện đủ loại thần thánh. Không biết căn cứ vào đâu, ông có nhận xét ngộ nghĩnh này: những người thuộc tầng lớp thấp trong xã hội Sài Gòn như phụ nữ, người nghèo thì theo đạo Phật, còn tầng lớp cao như nho sĩ thì theo đạo Khổng, nên chùa thờ cả Khổng tử lẫn Bà. Một nhận xét thú vị khác: đàn bà con gái có nước da lợt hơn đàn ông, tuy đàn ông là lao động chính nhưng đàn bà cũng bươn chải ngoài xã hội, tự do thoải mái hơn so với phụ nữ ở những xã hội Á Đông khác mà tác giả từng biết. Nhiều phụ nữ xứng đáng được coi là đẹp. Nhưng cả đàn ông lẫn đàn bà đều nhai trầu khiến ông thấy ghê. 
Không biết lúc báo đăng bài viết của ông Rose có bao nhiêu người Mỹ đọc và có ấn tượng gì về một nơi gọi là Sài Gòn. Nhưng 100 năm sau, Sài Gòn trở thành một danh từ ám ảnh đối với hàng triệu người Mỹ, với cả một thế hệ người Mỹ, và cả nước Mỹ. Và 150 năm sau, trong lúc gạn lọc tài liệu về mối quan hệ Việt – Mỹ  tôi ngẫu nhiên gặp bài báo “Một chuyến thăm Sài Gòn”. Không biết duyên nợ ân oán thế nào. Lạ một điều, Sài Gòn mà Walter A. Rose miêu tả sao giống như trong mộng mị hằng đêm của tôi:   “Những con đường hẹp chen chúc cuộc sống bận rộn, những khu ngoại thành thưa thớt  trải ra nhấp nhô hai bên bờ sông, đôi chỗ khuất sau những vườn  cau;  ngoại trừ phía tây bắc có mấy ngọn đồi, mọi chỗ khác đều là đất thấp, bồi bằng  phù sa, được tưới tiêu tốt nên phì nhiêu, nơi con Sông chảy qua, lòng sông rộng lấp lánh  như đồng được đánh bóng dưới ánh sáng vàng chóe của mặt trời đang lặn.”   

 Lý Lan

Blog EntryApr 23, '12 9:22 AM
for everyone











Blog EntryApr 20, '12 12:05 PM
for everyone

Chuyện kể rằng ở giữa một khu vườn nọ có một ngôi nhà nhỏ,và trong ngôi nhà nhỏ có một bà già đang ngồi bên bếp lửa lúc chiều hôm. Bà bỗngnghe có tiếng gõ cửa. Lật đật bà (lụm cụm) đi tới cánh cửa và mở ra. Không cóai cả. Bà nhìn quanh quất một hồi cũng không thấy ai. Nên bà tính đóng cửa lại.Lúc đó bà chợt thấy một con ốc sên đang ì ạch bò qua ngưỡng cửa. Bà bèn cúi xuốnglượm con ốc sên quăng nó ra vườn. Đâu mé bờ ao. Mười năm sau, cũng đang ngồitrong bếp, bà lại nghe tiếng gõ cửa. Lụm cụm bà đứng lên, lật đật đi mở cửa.Cũng không có ai. Bà lại nhìn quanh quất rồi tính đóng cửa lại. Thì thấy con ốcsên trên ngưỡng cửa. Nó đang ngước nhìn bà với ánh mắt oán trách và cất tiếngcàm ràm: “Sao bà ác dữ vậy?”
Nếu đọc tới đây bạn thắc mắc “Thế nghĩa là thế nào?”  tôi xin diễn giải câu nói của con ốc sên nhưvầy: “Bà quăng tui ra tuốt bờ ao, khiến tui phải từ đó bò trở lại đây mệt muốtđứt hơi!” Để khỏi có ai phải chau mày suy nghĩ, tôi viết huỵch toẹt ra cho rồi:Chuyện này giễu theo phương pháp thậm xưng cái sự chậm rì (hay đức tánh lì lì,kiên trì, gì gì cũng tì tì vượt qua) của con ốc sên. Nói theo ngôn ngữ “sát thủđầu mưng mủ” thì “Sên sến con ốc sên”. (Đừng bảo  tôi giải thích nữa.)
Sáng nay, sau cơn mưa xuân đầu hôm ướt át,  tôi thức dậy vén rèm cửa sổ nhìn ra vườn raumới trồng đám cải xà lách non. Ôi cải xuân mơn mởn. Mỗi cây chỉ mới có ba bốnlá, mỗi lá mỏng te chỉ mới dài cở ngón tay út. Vậy mà con sên to bằng ngón taygiữa mập lù. Sên là bà con nghèo của con ốc, không có tới cái vỏ làm nhà đểcõng theo. Nó đang tì tì nhâm nhi ba lá cải. Lập tức  tôi thay áo ngủ bằng bộ đồ bảo hộ lao động,đeo găng tay cao su, cầm cây kéo lăm lăm, mặt hầm hầm mở cửa bước ra vườn vớithái độ: “Cho mày biết tay tao!” 
Nhưng con sên đã biến mất. (Đám cải thì thôi, nói là thừa.)  Tôi sục sạo chung quanh vạt đất trồng rau, xớicả đất lên, vẫn không tìm thấy kẻ phạm tội phá hoại mầm non. Ừ thì mày thoát đượcphen này, nhưng bà sẽ lên kế hoạch diệt sên đến tận cùng cây số cho mà coi. Sênnói cho cùng không thuộc loại “thú cưng” mà bọn ăn no rửng mở có luật bảo vệ.Diệt sên, cho tới nay, hình như chưa bị kết tội tàn ác với thú vật như đánh consóc, bẫy con chồn, ví con nai. Mà ai làm vườn ở xứ Bellingham này mới biết thâmthù lũ sóc ngày đêm đào bới trong vườn, làm bật gốc cây mới trồng, đậu mới nảymầm, lại chạy rần rần trên những nhánh cây vừa đơm hoa kết trái khiến cành gảyhoa trái rụng tơi bời. Bọn nai còn là nguy cơ gây sốc, có thể khiến mình chếtvì đau tim, khi một sớm mai đẹp trời ra vườn thấy một bãi chiến trường tanhoang. Sao con nai thơ thẩn hiền lành vậy mà … Đừng hỏi kẻo  tôi nổi điên.
Cách đây gần một năm có một ông Việt Nam ở Canada bị hàngxóm kêu cảnh sát tới bắt về tội đánh lũ chồn hôi (raccoon) lẻn vào phá hoại vườncủa ổng.  Bài báo trên CityNews Toronto ngày1 tháng 6, 2011 có  tựa “Người bị buộc tộiđánh đập gia đình chồn hôi” gây một tranh cải sôi nổi trong phần độc giả bìnhluận trên trang web, đồng thời chia rẻ cộng đồng dân cư địa phương. CityNewsToronto bèn đăng một bài nữa vào 3 ngày sau  (do tác giả khác viết) với tựa: “Biểu tình chống-chồn-hôiở Toronto”, tường thuật rằng  một nhómngười đã biểu tình để ủng hộ ông Nguyen, tỏ ra thông cảm hành động của ông vìchồn hôi đã trở thành một phiền toái không chịu được ở xứ đó.  Trong khi một nhóm khác  dựng biểu ngữ phản đối sự hành hạ thú vật và phânphát những tờ truyền đơn đòi gia đình ông Nguyen dọn đi chỗ khác.  Lý luận của nhóm bênh chồn hôi là độc ác vớithú vật sẽ dẫn tới độc ác với con người.
Khi đọc tin này  tôinghĩ ngay rằng hàng xóm bênh chồn hôi của ông Nguyen chỉ mượn cớ đó để đuổiông,  nguyên nhân thực là kỳ thị chủng tộc.Nhưng kỳ thị chủng tộc là vấn đề “nhạy cảm” ở xứ Bắc Mỹ. Khi cậu bé da đen 17tuổi Trayvon Martin  ở bang Florida bị bắnchết và thủ phạm George Zimmerman được cảnh sát thả ra vì y cho rằng y giết ngườiđể tự vệ, dư luận Mỹ cũng chia làm 2 phe: Phe đòi công lý cho Trayvon cho rằngcách  hành xử  của Zimmerman và cảnh sát địa phương là kỳ thịchủng tộc. Phe bênh Zimmerrman cho rằng hành động “tự vệ” của Zimmerman là đúngtheo luật “Stand Your Ground”.  Luật chốngcự khi bị tấn công và giết người nếu cần để tự vệ. 45 ngày sau khi dân Mỹ biểutình rần rần và truyền thông Mỹ cải nhau nhặng xị, Zimmerman đã bị tạm giam đểchờ tòa xử.
 Ủa, đang nói chuyện ốcsên mà.  Tôi rất yên chí sên là côn trùnggây hại, tiếng Mỹ là pest, chứ hổng phải pet (thú cưng), giết sên không mắc tộianimal abuse, hành hạ thú vật, vì rõ ràng sên không phải thú vật.  Để chắc ăn, tôi tham khảo sách vỡ trước khi hành động. Thư viện thành phố có  một cuốn sách tựa là “The Secret World ofSlugs and Snails”, Thế giới bí mật của sên và ốc.  Tôi rinh về đọc. Câu chuyện con ốc sên bò 10năm một khoảng đường xa cỡ tầm ném của một bà già là lượm từ sách này ra.  Nói chung cuốn sách viết vui lắm. Như chuyệnông nọ ở Ang lê quyết diệt sên, đã bắt được 10.000 con sên trong một năm. Ông bắtliên tiếp 5 năm với hy vọng diệt tiệt chúng. Năm thứ 2 ông cũng bắt được cỡ10.000 con, năm thứ 3 cũng cỡ đó, năm thứ tư thứ 5 cũng vẫn tròm trèm 10.000con sên, chứ hổng giảm chút nào, hứa hẹn rằng ông có tiếp tục bắt 10.000 năm nữathì cũng vậy thôi.  Ông bèn thua. Chuyểnsang phương hướng chung sống hòa bình với ốc sên.
 Tôi nghĩ mình kiên nhẫnhơn, và có thể khôn hơn ông Ăng lê đó trong cách diệt sên.  Tôi chỉ thắc mắc là diệt sên có vô tình vi phạmluật pháp văn minh của xứ sở phát triển tiên tiến (trong khi mình rõ ràng là didân từ xứ đang phát triển chưa tới đâu). Ông Ăng lê nọ đã diệt tổng cộng 50.000sên mà không có vẻ bị truy tố. Hẳn nhiên ổng da trắng và vườn của ổng ở bênAnh. Nên  tôi cứ đọc hết cuốn sách để liệuhồn. Đoạn cuối sách viết là người ta tìm thấy trong những lâu đài trung cổhoang phế ở công hòa Séc 110 loài sên, trong đó có 1 loài đang bị nguy cơ diệtchủng rất lớn, 7 loài có  nguy cơ diệt chủng,và 16 loài dễ bị diệt chủng, theo Danh sách Đỏ của Liên hiệp quốc tế Bảo toànThiên nhiên ở cộng hòa Séc.   
Hú hồn. Trong khi chưa chắc chắn mấy con sên trong vườn mìnhcó nằm trong cái danh sách đỏ hay không, tôi khoan khoan làm gì chúng. Tốt nhứt bây giờ cứ đi mua một khẩu súng vềđeo kè kè bên hông, vì tiểu bang Washington này cũng có luật “Stand yourground.”
Lý Lan

Blog EntryApr 13, '12 1:24 PM
for everyone

Buổi chiều đi dạo dọc bờ biển, tay đút túi áo khoác, chân dẫmlạo xạo trên cát sỏi. Con mắt phóng thả ra khơi lên trời rồi trải ra trước mũigiầy. Lúc đó đầu óc đã như nước biển như khí trởi, nhìn viên sỏi thấy viên sỏi,thấy dề rong biển khô biết dề rong biển khô. Tôi đi như thế có khi hàng giờ. Bên này bờ Thái Bình Dương, biển ở phíaTây, mặc trời lặn là một cảnh quang kỳ vĩ, lời không tả nỗi.
Đôi khi  tôi cúi xuốnglượm một hai viên sỏi cầm chơi. Rồi lơ đảng đút tay vào túi áo. Gió biển  lạnh. Khi về đến thềm nhà, cho tay vào túi lấychìa khóa,  tôi chạm vào những viên sỏi.  Tôi đặt chúng bên rìa bậc thềm. Buổi trưa ngồitrên thềm nhìn ra vườn, tiện tay cầm viên sỏi chọi con sóc đang đào bới rau củ.Con sóc tỉnh bơ, viên sỏi rơi lạc chỗ nào không biết.
Ngày xuân dài ra, sáu bảy giờ chiều mặt trời còn nhẩn nha vờnmép nước. Những chuyến đi dạo dài kết thúc bằng cả nắm sỏi trút ra từ túi áokhoác đặt trên bậc thềm. Người sống chung nhà là một người bảo vệ môi trường, rấtgiận khi thấy  tôi về với những viên sỏicủa biển, chúng không phải CỦA  tôi.  Nhưng tôi đâu có ăn cắp chúng. Chỉ là ngẫu nhiên mà ở một khoảnh khắc nào đó mộttrong hàng tỷ viên sỏi dọc bờ biển bắt được ánh mắt  tôi rồi theo tôi về nhà. Chúng túm tụm trên bậc thềm hay lăn lóc đâu đó, cũng vẫn là ởtrong trời đất bao la.
 Tôi có hiểu điều dễhiểu này: hàng trăm ngàn người đi dạo như tôi, nếu mỗi người chỉ lấy đi vài ba viên sỏi mỗi lần thì sớm muộn gì sỏicũng biến mất trên bãi biển. Thực ra có luật cấm du khách nhặt nhạnh bất cứ thứgì trên bờ biển. Sóng đem gì vô bờ hay lấy gì từ bờ đi là chuyện của biển, và củabộ phận  bảo vệ  thiên nhiên. Họ biết thứ gì là “rác” để thugom tiêu hủy, thứ gì có thể sanh sôi thay thế như cua sò hào hến thì cấp giấyphép lượm bắt có giới hạn. Còn sỏi đá cát là sỏi đá cát, hãy để chúng chơi vớisóng. Nếu muốn, ra đề pô (Home Depot) mà mua, lớn nhỏ đủ cỡ, màu sắc số lượngphong phú.  
 Người bạn đời của  tôi cũng hiểu điều đơn giản này: sở hữu một đốngsỏi không có ý nghĩa gì cả. Cái khoảnh khắc tôi nhìn thấy viên sỏi, cái tâm tình lúc tôi cầm viên sỏi giữa những ngón tay lạnh cóng đi thơ thẩn giữa biển trờimênh mông, khiến cho một viên sỏi nào đó mang ý nghĩa  đặc biệt trong thế giới tâm linh của  riêng tôi.
Đôi khi  tôi dừng chântrên bờ biển, ngồi xuống một súc gỗ giạt vào bờ từ cơn bão đã qua. Một chân cầu?Một cột buồm? Đâu có gì quan trọng nữa cái danh phận súc gỗ này  từng mang. Từ trong cốt lõi nó vẫn là gỗ. Bây giờ tôi dùng nó như ghế ngồi, hay mai đây nó làm củi chụm cho một đống lửatrại, có ý nghĩa gì không? Đã bao nhiêu lần tôi ngồi đó, viên sỏi cầm trong tay chơi, cho đến một hôm súc gỗ khôngcòn ở đó nữa. Nếu ai chưa từng trải qua mất mát người/ điều thân thiết nhứt thìcó hiểu tại sao  tôi ôm biển khóc cả buổichiều và không còn muốn đi ngang qua nơi ấy nữa.
Dù sao,  tôi đã thaythói quen xoay xoay viên sỏi trong tay bằng một thiết bị điện tử nho nhỏ có thểdùng để đọc sách và lướt mạng, để gọn trong túi áo khoác. Giữa chừng cuộc dạochơi, bàn tay đút túi áo chạm vào món đồ chơi mới sắm,  tôi lấy nó ra, xoa xoa chạm chạm ngón taytrên những dòng chữ và hình ảnh liên tục hiện ra và mất đi.   Tôi lướt qua vô số ảnh chụp biển khắp nơivào mọi thời điểm, trong bình minh, bão tố, chợt nghe làn sóng thở dài ngay dướichân mình. Những viên sỏi trở mình, những hạt cát chới với theo luồng nước rútra khơi.
 Tôi đọc một bài thơ,một truyện ngắn, hay một bài văn tản mạn. Ráng đọc cả một tiểu thuyết hay mộtnghiên cứu dài về não và thần kinh.  Mónđồ chơi nho nhỏ này chứa nhiều thứ như người bán quảng cáo: hằng trăm tác phẩmvăn học cổ điển “phải đọc” và hàng trăm tác phẩm hay nhứt thể kỷ 20 “đáng đọc”và hàng ngàn thứ lẻ tẻ khác “sẽ đọc” mà tôi đã tùy hứng chép vào khi cơn khoái đồ chơi mới đang còn tí tách.
 Tôi đã đọc hàng giờtrên giường trước khi buông tay rơi vào giấc ngủ.  Tôi cũng đã đọc nhiều giờ liền trên chiếcvõng mắc trong vườn sau nhà những ban trưa đầy nắng. Chưa kể những giờ đọc miệtmài bên bàn viết. Nhưng  tôi không thể đọctrước biển. Dù là một cuốn sách giấy hay sách điện tử, những chữ những hình cứ trôiqua mắt  tôi như cát tuột theo nước dướichân mình.
Biển hiện hữu dường như ở trong  tôi chứ không chỉ bên cạnh.Mênh mông cả ở trong  tôi trời và nước.Muốn đọc sách chăm chú người ta phải làm trống mình trước đã. Nhưng giữa  tôi và biển có một ống thông nhau, khi  tôi ở bên biển thì không có cách nào biển đầymà  tôi vơi được. Những viên sỏi hiểu điềuđó. Súc gỗ lênh đênh từ bờ này sang bờ kia đại dương hiểu điều đó.
Lý Lan

Blog EntryApr 10, '12 1:02 PM
for everyone

Sau những ngày mưa, gió, tuyết, sương giá, mây mù, cuối cùnghôm nay nắng lên.   Tôi ra thăm vườn rau:chỗ thì nước đọng cả vũng, chỗ thì đất nhão chèm nhẹp. Nhưng trừ mấy chỗ đó rathì chỗ nào cũng xanh rì cỏ dại. Đang hí húi nhổ cỏ thì nghe tiếng kêu trên trời“Ngá ngá”. Ngước nhìn lên thấy một đàn chim đang bay.
Chim bay trên trời cao cao, đối với  tôi, con nào cũng như con nấy.  Mà nếu có con nào lượn qua lượn lại ngay trướcmắt  tôi  kiểu biểu diễn thời trang,  tôi cũng bù trất tên tuổi của chúng. Vùng nàyven biển nên có nhiều giống chim lắm. Tôi đoán tiếng chim kêu nghe như “Ó” là hải âu, còn “Nga nga” là tiếngngỗng. (Tùy tâm trạng, có khi  tôi nghechúng kêu “Ngơ ngác”, có khi nghe như “Ngao ngán”, lại có khi “Ngáp ngáp” hay“Ngang ngang”.  Nhưng từ khi biết chúnglà ngỗng,  tôi thường nghe ra  “Nga nga” hơn vì nga là ngỗng mà.) Thiên ngalà ngỗng trời. Những con ngỗng bay qua vùng trời này thường là ngỗng Canada.
Mùa thu ngỗng bay về phương nam. Bây giờ đàn ngỗng thiên diđang trở về. Vậy là mùa xuân cũng đang theo ngỗng về. Hứng khởi trong lòng  tôi hát khe khẻ: “Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về…” Tuy hiện thực và lời ca có khácnhau chút đỉnh, nhưng tinh thần phấn chấn như nhau. “Mùa bình thường, mùa vui nay đã về…” Cảm giác hân hoan an lạc khimùa đông đầy bão tuyết dữ dội thất thường qua đi, để sáng sớm nắng lên bình thường,sương tan trên cỏ và chim hót trong lùm cây đang nảy chồi non. Giai điệu êm áingân nga trong đầu,  tôi đung đưa thânmình như đang khiêu vũ.  “Mùa xuân mơ ước đang đến đầu tiên với khóibay trên sông, gà gáy trưa bên sông…”
 Một trưa nắng vui.  Tôi nhổđược một nắm bồ công anh (dandelion) đem vô nhà trộn gỏi. Bồ công anh bị coi làcỏ dại, mọc tràn lan ở xứ này. Lần đầu tiên thấy chúng nở hoa vàng rực trên bãicỏ xanh,  tôi yêu chúng ngay. Đến khi ănquen vị đăng đắng của chúng  tôi càngyêu. Tuy tình yêu bồ công anh trở nên thực tế hơn, phàm tục hơn, nhưng nó cũngchân thực hơn. Và bền bĩ. Cứ đầu xuân ra vườn là thấy bồ công anh đang lúc nontơ mềm mại, lá xanh mướt cọng trắng nõn. Sau mấy tháng trời sống trong âm u ănđồ đông lạnh, cơ thể  tôi có một thèm muốnrất tự nhiên khi thấy cọng lá bồ công anh tươi roi rói. Nhai nó giòn giòn như cọnggiá, vị nó nhân nhẩn như rau đắng.  Tôiăn nó đủ kiểu: trộn gỏi, cuốn bánh tráng, xào tỏi, nấu canh tôm.
Hôm nay  tôi sẽ trộn nắmlá bồ công anh đầu mùa với mấy thứ rau cỏ khác cũng hái trong vườn làm món gỏixuân. Những thứ rau trong vườn sống sót sau băng giá xứ này gồm arugula, mache,kale và leek. Chúng không mọc ở xứ mình nên tôi không biết chúng có tên tiếng Việt hay không. Leek thuộc họ hành tỏi,thân suông đuột như hành lá nhưng phảng phất mùi tỏi, đôi khi  tôi dùng thay hành lá, thường thì xào vớitôm/thịt như tỏi. Kale là bà con gần với cây cải rỗ.  Mà có lẽ chúng là anh em. Vì cải rỗ bị gọi là“Chinese kale”, hay kale Tàu,  phân biệtvới kale Nga (Russian kale), kale Tô cách lan, kale Mỹ, do hình dạng của láquăn hay rách hay phẳng. Mache ăn như lá sâm đất,  còn arugula có vị cay cay, bà con của cải bẹxanh. Còn một thứ giống cải bẹ trắng gọi là chard, chịu lạnh kém hơn, lá thườngdập úng sau vài trận sương  giá /   tuyết đầu tiên, nhưng nếu ủ gốc rễ kỹ thì đầuxuân chúng lại nảy mầm non lá mới.
Hái mỗi thứ rau một nắm, rửa sạch, rảy cho ráo nước, trộn lẫn nhau với dầu ô liu và giấm đỏ, thêmmấy cái crouton là bánh mì cắt nhỏ như hột súc xắc chiên giòn. Đơn giản vậythôi. Đó là món ăn  tôi tự hào không thểnào làm dở được. Rau tươi rói, mỗi thứ rau một vị: ngọt, đắng, cay, chua, bùibùi… có đủ.  Tô gỏi dọn lên bàn ăn, ôngchồng kêu lên: “À há! Gỏi xuân!”  Tôi nóihồi trưa nhổ cỏ trong vườn  tôi nghe ngỗngtrời kêu, vậy là mùa xuân theo ngỗng về rồi. Anh cười bảo: Thời tiết thay đổi,trái đất ấm dần lên, lũ ngỗng trời không cần bay xa lắm về phương nam trú đông,có lẽ chúng chỉ lẩn quẩn quanh mấy đầm nước ven biển trong vùng này. Nghe mà cụthứng.  
 Dù vậy  tôi cũng cố gia vị bữa ăn một chút lãng mạn bằngvăn học nghệ thuật.  Tôi nói với anh rằngcâu “Mùa xuân theo ngỗng về” là  tôi nháicâu hát trong bài “Mùa xuân đầu tiên” của Văn Cao, một nhạc sĩ tài hoa ViệtNam, sáng tác vào mùa xuân hòa bình đầu tiên. Sau bao nhiêu năm đất nước chiếntranh, xã hội xáo trộn, cuộc đời riêng từng người chìm nổi những hoạn nạn, lytán… thì một trưa nắng thanh bình vẳng tiếng gà gáy trưa bên sông và bầu trời dậpdìu chim én bay, thay vì máy bay ném bom và tiếng còi rú báo động ở từng góc phố…  Tôi chưa dứt câu, chưa nói hết ý mình, đã ngừnglại, vì diễn biến trên nét mặt ông chồng. Rất khó tả sự thay đổi tinh vi mà chỉcó người ngồi đối diện với nhau mỗi ngày ở bàn ăn mới nhận ra. Và điều đó chỉthoáng qua. Rồi anh như tỉnh lại, bảo: “Trong khi  cuộc sống trên mặt đất còn được bình thường,hãy thưởng thức điều bình thường của mùa xuân.” Ý ảnh là món gỏi xuân.



Blog EntryApr 6, '12 3:07 PM
for everyone

Khi nhìn đăm đăm rất lâu một cái gì đó, bầu trời, ngôi sao,mặt biển, viên sỏi, hạt muối, hay giọt nước chẳng hạn, người ta thấy gì?
Người ta thường thấy cái mà người ta muốn thấy. Người bạn nghiêncứu tâm lý học có sẵn câu trả lời. Gương mặt một người thân, hình ảnh của tuổithơ hạnh phúc, thiên đàng với nhã nhạc và hoa thơm, hay cõi trống vắng bình yêncủa tâm hồn mình. Có điều,  tôi khôngluôn luôn nghiệm đúng điều đó.
Nhiều khi  tôi thứcgiấc nửa đêm, ngước nhìn bầu trời đầy sao, muốn nhìn thấu lòng mình như khoảngkhông lặng lẽ, nhưng cứ lơ lửng trước mắt là những ngỗn ngang của cơn ác mộngđột ngột vỡ òa khi  tôi choàng tỉnh giấc.  Tôi càng chăm chú nhìn bầu trời, càng nghelòng mình xáo động, như thể những mảnh vỡ không ngừng trôi nổi quanh mình, liêntục va đập trái tim mình.
Những ngày trời không giông bão  tôi thường đi dọc bờ biển. Đây là bờ tây nướcMỹ, chiều chiều nhìn mặt trời lặn xuống Thái Bình Dương  tôi hình dung ánh ban mai sắp lố dạng trênbiển đông ở quê nhà.  Tôi ngồi trên mộtmõm đá nhìn đăm đăm mặt biển đỏ sậm chuyển màu tím rồi xanh lam sậm, hy vọng sẽnhìn thấy tuổi trẻ  đầy hoang tưởng củamình ở bờ bên kia đại dương.  Khoảng năm1982  tôi sống ở Vũng Tàu mấy tháng, quãngđường vòng qua Ô Quắn rất vắng vẻ,  đidạo gặp xác người vượt biên tấp vào ghềnh đá là chuyện thường.
Hồi đó  tôi mới tốtnghiệp đại học, bạn bè có đứa nhận nhiệm sở ở tuốt miền Trung, miền Tây, có đứavượt biên đến những xứ sở xa lạ, có đứa ra đi mà không có tin tức gì. Tuổi đôimươi phơi phới, rạo rực trong người bao năng lượng và khát khao.  Tôi muốn làm cái gì đó lớn lao có ýnghĩa.  Tôi muốn sống cách nào đó chocuộc đời thú vị đáng sống.  Tôi tưởngmình có thể thực hiện những câu thơ lời nhạc: đi từ Nam ra Bắc thăm hết mọinhà, kết tình anh em, xây dựng lại quê hương sau chiến tranh tàn khốc, đâu biếtnghệ thuật chỉ là ước mơ mà nghệ sĩ gởi gắm vu vơ. Nhưng tôi vẫn sẵn sàng chonhững cuộc phiêu lưu và sẵn sàng chấp nhận những hậu quả mà  tôi lường trước. Chỉ có điều phần lớn nhữngcuộc phiêu lưu đưa tới những hậu quả mình không lường được.
Bây giờ là cuối tháng ba năm 2012, báo địa phương đăng tinmột con tàu ma đang từ từ trôi giạt vào bờ biển Canada, phía bắc chỗ  tôi đang ngồi chừng hơn trăm dặm. Ảnh chụpcon tàu trơ trụi bộ khung rỉ sét không người lái nổi lềnh bềnh trên mặt biển.Con tàu được xác định là xuất phát từ Hokkaido, Nhật Bản, có lẽ là một tàn tíchtrôi nổi vì  sóng thần sau trận động đấthồi tháng 3 năm 2011 đã giết hơn 19.000 người và biến hàng chục ngàn ngôi nhàvà cơ sở doanh nghiệp thành 20 triệu tấn mảnh vỡ bị cuốn ra biển.  Những mảnh vỡ này theo dòng hải lưu trôi nổitrên Thái Bình Dương. Cái gì có thể tan rã thì đã tan rã theo sóng nước, cái gìđủ nặng để chìm thì đã chìm xuống đáy biển. Dù vậy vẫn còn một “nghĩa địa”khổng lồ những thứ không tan rã không chìm, như tivi, tủ lạnh, giường nệm, bànghế và vật dụng bằng nhựa tổng hợp, đang bồng bềnh vượt qua đại dương trên mộtdiện tích lớn hơn nước Việt Nam,  trảidài 2.000 dặm.
Dòng hải lưu bắc Thái Bình Dương chảy theo chiều kim đồnghồ,  từ xích đạo lên phía bắc rồi vòngtrở xuống, tốc độ chừng ba bốn dặm, tương đương tốc độ người đi bộ nhanh trênmặt đất. Vật trôi nổi theo dòng hải lưu có thể trôi nhanh chậm tùy những điềukiện khác như gió hay kích thước và chất liệu vật đó. Người ta dự tính đến mùathu năm 2013 thì những vật trôi nổi từ bờ biển Nhật sẽ bắt đầu giạt vào bờ biểnbắc Mỹ. Con tàu ma đã đến sớm hơn người ta mong đợi. Nhưng người ta cũng đãchuẩn bị đón chúng từ tháng 11 năm ngoái. Trước đó một tàu Nga trên đường từHonolulu, đảo Hawaii, về cảng Vladivostok, đã phát hiện “nghĩa địa” trôi nổinày, và chính quyền các bang miền tây bắc Mỹ phải tính đến ngân sách dọn dẹpchúng. Báo đài địa phương cũng thông báo cho dân chúng biết là khả năng chúngnhiễm phóng xạ không cao, mối nguy hiểm chủ yếu là chúng có thể gây trở ngạiviệc giao thông đường thủy và trở thành rác khó tiêu hủy. Báo cũng chỉ dẫncách  xác định một vật trôi nổi từ đạidương giạt vào bờ có phải từ  Nhật không,và nếu mình phát hiện thì làm gì với chúng.
Làm gì với những vật trôi nổi? Có thể một chiếc giầy thểthao còn xương bàn chân trong đó. Có thể một món đồ chơi trẻ con có tên đứa bé.Có thể một cái tủ chứa những đồ gia bảo và những album gia đình đã nhòa nhoẹt.Những thứ đơn giản là “rác” với kẻ nhàn du bên này bờ đại dương. Nhưng bên kiabờ, nơi 2.000 người sống sót trận thiên tai ấy vẫn đăm đăm nhìn ra biển, đó lànhững kỷ vật thiêng liêng. Dòng hải lưu có thể sẽ mang một số vật trôi nổi quay  về Nhật sau khoảng 6 năm, các chuyên gia nóivậy, mặc dù có khả năng phần lớn chúng sẽ dần dần chìm xuống hay giạt vào đâuđó.
 Tôi không trông mongmột di vật trôi nổi nào đó tấp vào tảng đá mình đang ngồi chiều nay. Nhưngdường như  tôi thấy lại những xác ngườiđang tấp vào chân mình ngày xưa ở bãi biển Vũng Tàu. Một trận động đất, một consóng thần, bỗng nhiên nhà tan cửa nát, hàng chục ngàn người bị cuốn ra biểnkhơi. Ai biết con Tạo chơi trò gì? Ba mươi năm trước có người đã liều sống liềuchết lao ra đại dương, bảy nổi ba chìm, bây giờ tóc bạc da mồi, ky cóp tiền hưutrở về quê cũ. Ba mươi năm trước có người khăng khăng chọn mảnh đất bên này đạidương làm quê hương, ba chìm bảy nổi, bây giờ cũng tóc bạc da mồi, chiều chiềungồi ở bên kia đại dương đăm đăm nhìn ra biển.

Lý Lan  

Blog EntryApr 2, '12 12:18 PM
for everyone

Hôm  28/3/2012, hầu hết các trang /báo/ tạp chí văn họcMỹ đều có bài viết trang trọng về Adrienne Rich, người vừa rời cõi trần gian nàyngày hôm qua. Bà được tôn xưng trên những tựa bài lớn là “nhà thơ nữ quyền”  với những  từ kèm theo như  “gây ảnh hưởng lớn lao”, “được trao nhiều giảithưởng”,  “tiên phong trong phong trào nữquyền”, “một trong những trí thức hàng đầu”  với những trích dẫn từ các nhà phê bình văn học,như Helen Vendler, giáo sư trường đại học Harvard:  “AdrienneRich có một đóng góp rất quan trọng cho thơ . Bà có khả năng thể hiện lương tâmMỹ thời hiện đại. Bà có quyền năng điều khiển ngôn ngữ và hình ảnh để diễn đạtđiều đó.”  Hay như Barbara Gelpi,giáo sư đại học Stanford: “Adrienne Richlà tiếng nói của phong trào nữ quyền khi phong trào này chỉ mới khởi đầu vàchưa có tiếng nói.”
Đối với người Việt, tên bà có lẽ hoàn toàn xa lạ. Nhưng chắcchắn Việt Nam (hay cuộc chiến tranh Mỹ tiến hành ở Việt Nam) là một trong nhữngyếu tố có ý nghĩa trong cuộc đời và thơ văn của bà. Nhiều bài viết tưởng nhớ bànhắc đến những cuộc xuống đường và những bài thơ chống chiến tranh Việt Nam tạođược âm vang sâu rộng.  Chống chiến tranhViệt Nam, tranh đấu cho dân quyền và những tâm tư dằn vặt của một người đànbà  là những chủ đề trong tập thơ được giảithưởng Sách Quốc Gia năm 1974  “Lao theo cuộc đắm tàu”. Thoạt đầu bàkhông muốn nhận giải thưởng, nhưng sau đó bà đã cùng hai nữ thi sĩ khác có tácphẩm đề cử tranh giải là Alice Walker và Audre Lorde nhân danh tất cả phụ nữ đểcùng nhận giải thưởng.
Nếu kể những giải thưởng Adrienne Rich từng được trao thìnhiều lắm. Năm 22 tuổi, vừa tốt nghiệp đại học, bà đã được giải thưởng Nhà ThơTrẻ Yale 1951 với tập thơ đầu tay “Mộtthay đổi của thế giới”. Ngay trong những bài thơ đầu tay này, Adrienne Richđã tỏ rõ  xu hướng chính trị và xã hội sẽđược lập đi lập lại và đào sâu hơn trong cả sự nghiệp sáng tác sau này.  Ngoài các giải thưởng lớn nhỏ của Tạp ChíThơ, Hội Thơ Mỹ, Viện Văn học Nghệ thuật Quốc gia, Hàn lâm viện các nhà thơ Mỹ,các giải thưởng mang tên Guggenheim, Shelley, Ruth Lily, Lenore MarshallL,MacArthur, Wallace Steven, Griffin, bà cũng được trao nhiều huy chương vinhdanh tài năng nghệ thuật và đóng góp về thơ ca và tiến bộ xã hội. Hai trường đạihọc là Harvard và Smith đã trao bà bằng cấp Tiến sĩ danh dự. Bà nhận tuốt,  trừ huy chương Nghệ thuật Quốc gia do tổng thốngMỹ trao (1997) vì bà nói: “theo  tôi hiểu,ý nghĩa thật sự của nghệ thuật không tương thích với nền chính trị vô đạo củachính quyền này.”
Đó là thời gian Adrienne Rich làm những bài thơ trong tập “Cứu vớt nửa đêm” mà nhà văn Nam PhiNadine Gordimer nhận xét: “Trong nhữngbài thơ mới đáng kinh ngạc này, Adrienne Rich dám nhìn và mở rộng ngôn ngữ thơcủa bà như nhân chứng đối với kho báu – Cứuvớt nửa đêm – mà chúng ta giải cứu từ nỗi sợ hải và vụn nát. Tác phẩm củaAdrienne Rich từ lâu đã  thách thức nhữngphi lý xã hội dựa trên bạo lực và quyền hành thối nát. Trong Cứu vớt nửa đêm bà tiếp tục sự tìm tòiđến tận cùng thế kỷ để, như bà nói, đương đầu với cái ghê sợ bằng niềm hy vọng,trong ngôn ngữ phức tạp khi cần thiết, dễ cảm thông khi có thể - một thi phápcó thể hiệu quả như thuốc giải độc cho thói tự mãn, tự quẩn trí, và tuyệt vọng.  Tôi muốn tạo ra một đại sân khấu các tiếngnói chứ không chỉ một cái tôi hạn hẹp. Tôi viết cho cả những độc giả  tôibiết đang hiện hữu và những người  tôi tưởngtượng, tìm kiếm cái đẹp được cứu vớt của chính họ khi  tôi tìm được cái đẹp của chính  tôi.”
Chào đời ngày 16/5/1929 ở thành phố Baltimore, bangMaryland, nước Mỹ, Adrienne Rich là con gái đầu lòng của một bác sĩ người DoThái và một nhạc sĩ dương cầm đạo Thiên Chúa. Trong nhiều tác phẩm sau này bàthường bị dằn xé về cội nguồn văn hóa, nhưng cơ bản bà được sinh ra trong mộtgia đình khá giả, hưởng một nền giáo dục tốt, trưởng thành như một cô gái nhàlành, được cha mẹ khuyến khích làm thơ viết văn, và tập thơ đầu tay của bà đượccác nhà phê bình nhận xét là “trang trọng” , “thanh nhã”, và “tự kiềm chế”.  Nhưng từ khi tham gia phong trào dân quyền  từ những năm cuối thập niên 1950 và đầu thậpniên 1960 (chống kỳ thị người da đen) Adrienne Rich cảm thấy được cởi trói vàtìm được ngôn ngữ cần thiết cho thơ bà chống lại áp bức, bà không còn là  “gái ngoan” nữa, mà trở thành “người đàn bànguy hiểm”. Từ đó thơ bà là những tiếng nói đấu tranh cho công bằng xã hội, dânquyền và nhân quyền cho những kẻ bị kỳ thị áp bức thiệt thòi: phụ nữ, người dađen, dân nhập cư, người đồng tính.  
Thơ không phải là chân lý, mà ngay cả “chân lý” cũng gâytranh cải ở hai sườn núi khác nhau. Thơ Adrienne Rich, cuộc đời và lý tưởng củabà, cũng có những nhận định và bình luận khác nhau. Nhưng hầu như các nhà phêbình  dù từ quan điểm nào cũng nhìn nhậnthơ Adrienne Rich hay, đóng góp về thi pháp và ngôn ngữ của bà không ai có thểchối cải. Sau  83 năm trở trăn tìm kiếm để cứu vớt cái đẹpở cõi người ta,  Adrienne Rich để lại khoảng25 tập thơ cùng văn xuôi và một ảnh hưởng sâu sắc đối với nhiều thế hệ văn họcvà phụ nữ. Một số nhà phê bình không muốn gọi bà là nhà thơ phụ nữ (woman poet)vì cho rằng từ phụ nữ kèm theo sẽ giới hạn tầm cỡ của bà như một nhà thơ lớn,ngang ngữa với bất cứ nhà thơ lớn (đàn ông) nào.  Nhưng những người  viết bài tưởng nhớ bà hôm nay , những phụ nữtrẻ đang hưởng thành quả của phong trào nữ quyền, như Mary Rourke viết  trên Los Angeles Times,  Alison Flood trên The Guardian, Margalit Foxtrên New York Times, Kate Waldman trên Paris Review,  (và nhiều nữa) đều trân trọng vinh danh bà nhưmột nhà thơ nữ quyền (feminist poet).

Lý Lan

Blog EntryMar 28, '12 11:13 AM
for everyone

Xem đi xem lại hàng trăm tấm hình rau khúc tìm được trêninternet,  tôi chắc chắn  đã từng thấy hoa này, lá này, cây này ở ngaytrong vườn nhà mình. Cách đây nhiều năm. Thưở mơ màng chưa có khái niệm gì vềrau cỏ vườn tược.  Cũng chẳng bận tâm rằngcó một thứ rau khúc trên đời.
Hồi nhỏ ăn xôi khúc của “bà Bắc kỳ” ở xóm bên,  tôi cứ ngỡ  xôi khúc nghĩa là xôi lấy ra từng khúc, mỗikhúc có một cục nhưn.  Tôi không chứng kiếntận mắt cách bà nấu xôi, nhưng đứa con gái bà trạc tuổi  tôi thường ngày phải giã mội cối hành lá chomẹ làm bánh. Mùi hành lá quyện với mùi tiêu, đậu xanh, mỡ heo bùi béo  chỉ bốc lên khi cắn vào “cục nhưn” bên tronglớp xôi trắng dẻo thơm ngon đặc trưng mà tôi đinh ninh là mùi xôi khúc. Mãi sau này  tôi mới biết “cục nhưn” đậu xanh xào thịt mỡtrộn tiêu hành lẽ ra được bọc bằng một lớp bột nếp trộn rau khúc giã nhuyễn.Chính rau khúc này mới làm nên mùi thơm đặc trưng và cái tên  xôi khúc.
Vậy là mấy chục  nămtrời  tôi cứ tưởng mùi lá hành là mùi lákhúc.  Tôi phải ít nhứt một lần ăn cho đượcmiếng bánh khúc thứ thiệt để cải chính, hay để minh danh cho xôi khúc.  Tôi cũng hiểu là khí hậu miền nam không phù hợpvới rau khúc, một thứ rau ôn đới chỉ mọc vào mùa đông đến  đầu mùa xuân phương bắc và rụi tàn khi trời ấmlên. Cho nên ở Sài Gòn chỉ có thể ăn xôi khúc cải biên với lá hành, lá cải, lákhoai, hay lá tần ô.  Tôi đợi dịp ra Hà Nội,đặc biệt vào mùa xuân, hy vọng thưởng thức miếng bánh khúc trong cái lạnh se damiền bắc.
 Tôi đã đi lơ ngơtrong cái chợ to gần Cầu Đông (vì chỗ ở trọ trên đường này) hỏi người ta có bánrau khúc không. Người bạn Hà Nội đi cùng bảo “Chị hỏi cái lá diêu bông có thểngười ta còn biết đấy là ông Hoàng Cầm bịa ra, chứ cái lá rau khúc thì người takhông biết đâu mà lần.”   Tôi leo lên cả đường đê nhìn ra bờ bãi sông Hồngđể tìm. Nhưng làm sao tìm cái mình chưa từng biết hình dạng? Bạn  tôi thú thật là chị cũng chưa từng thấy raukhúc ra làm sao, và chị không chắc cái bánh khúc bán quanh năm trong ngõ nhà chịlàm bằng cái thứ lá gì. Rau khúc cũng như những thứ của thời thôn dã xa xưa đã trở thành nỗi niềm hoài cổ trong đôthị ngày nay, có hay không thực ra chẳng ảnh hưởng gì đến cuộc sống hiện đại đangphát triển.  Tôi không hoài niệm rau khúc( đâu có ký ức gì về nó!).  Tôi đi tìmrau khúc vì lý do thực tế hơn.
Chúng ta đang sống ở thời thông tin internet.  Tôi google “rau khúc”  ra cái tên khoa học Gnaphalium affine D. Don,   Tôi lần theo cái tên khoa học thì gặp vô sốwebsite chữ Hoa, chữ Nhật, chữ Hàn, chữ Anh. Thì ra nó rất phổ biến ở các nướcĐông Á.  Ở Nhật người ta có tục ăn cháo bảythứ rau trong đó có rau khúc vào ngày bảy tháng giêng để có sức khỏe  trong năm mới. Ở Đài Loan có món bánh ngonlàm bằng rau khúc mọc trên vùng núi Alisan gần gần giống bánh khúc ở Việt Nam:lá khúc giã nhuyễn trộn bột nếp bọc nhưn rồi hấp chín, chỉ khác là không có xôibọc quanh bánh. Ở các nước Đông Á rau khúc còn hiện diện trong bữa ăn như rauluộc, và dùng trong ngành y dược dân tộc như một cây thuốc phổ thông trị cảm mạoho trướng mụn nhọt thông thường. Nói chung rau khúc vẫn sống hồn nhiên ở đâu đóchứ không đến nỗi tuyệt chủng để mà thương tiếc nhớ nhung.
Thực ra rau khúc mọc … khắp nơi trên thế giới, ngay cả ở Mỹ.Mà ở Mỹ thì rau khúc bị coi là cỏ,  cótên là cudweed.   Hồi mười năm trước, thửa mới theo chồng về ở xứBellingham này, mùa xuân nhìn từ cửa sổ nhà bếp ra góc vườn thấy một giề xanhxanh vàng vàng, chồng bảo đó là cudweed, một thứ cỏ dại mọc lan rất nhanh và rấtkhó diệt. Nên  tôi đã tận lực nhổ bỏ. Mấynăm sau chúng mọc lại thưa thớt,  tôicũng nhổ sạch bách.  Bây giờ thì trong vườnchẳng còn cọng cudweed nào nữa.
Thấy  tôi buồn, ông chồnghứa xuân sang sẽ chở  tôi ra đồng, tha hồhái hoặc bứng về trồng lại trong vườn. A phải rồi! Dù là cỏ dai hay rau tự mọchoang ngoài đồng mình vẫn có thể trồng được. Thậm chí trồng còn tốt hơn. Nhớrau càng cua, rau đắng đất, rau dền dại, rau cải trời… những thứ ngày xưa làrau dại mọc hoang trong vườn nhà ngoại tôi, chẳng ai trồng cũng chẳng  aibán mua gì chúng. Rồi bỗng dưng Sài Gòn thịnh mốt ăn gỏi rau càng cua, cháo cárau đắng đất… những món được liệt vào hàng đặc sản trong thực đơn nhà hàng caocấp. Vậy là các chợ Sài Gòn, cả siêu thị, hè nhau bày bán rau càng cua, rau đắng…Hái hết rau dại thì người ta trồng, có cầu thì có cung. Xuân này  tôi sẽ bứng cudweed về trồng, xuân sau  tôi sẽhái một mớ đem về xóm cũ làm quà cho cháu ngoại “bà Bắc kỳ” bán xôi khúc ngàyxưa…

Lý Lan    


Tiện ích của máy tính và internet tập cho  tôi một thói quen: lưu lại (save) bất kỳ vănbản đang đọc nào làm nảy lên ý tưởng gì đó. Có thể một bài viết liên quan đến đềtài hay nhân vật mình đang quan tâm lúc đó. Chẳng hạn câu chuyện một phụ nữnông thôn ít học đi lấy chồng ở bên Tây, có tựa “Viễn vông bóng đèn”, tác giảViệt Linh,  tôi lưu vào hồ sơ (folder): “Đờisống người việt ở nước ngoài”. Hay bài viết cũng của Việt Linh về MadeleineRiffauld trong “Buổi phim xao động” được cho vô hồ sơ “Nữ quyền”.
Có nhiều bài  tôi đãlưu lại chỉ vì một chi tiết, tình tiết nào đó rất riêng tư. Chẳng hạn  “Nhân Kiều”,  Bài& ảnh của Việt Linh,  có  tấm ảnh chụp hình hoa Forsythia.  Vườn sau nhà tôi cũng có cây  này,  mọc thành bụi rậm,  hoa không hương, nhưng nở rộ vào lúc hầu nhưcác thứ cây cỏ khác còn ngủ đông.  Tôichưa từng thấy hoa này đẹp cho đến khi nhìn tấm ảnh chị Linh chụp. Và đọc bài chịviết, thấy y chang tâm tình của mình.
Viết là công việc đơn độc của một người. Ly hương là con đườngcùng văn hóa. Người viết ly hương phải tìm cách nhập vào đại lộ văn hóa xứ người,ngược lại sẽ  bị lạc lỏng và lãng quên ởcuối con đường cùng văn hóa của mình, nhất là ngôn ngữ của mình.  Nhưng người đàn bà tha hương viết bằng tiếngmẹ đẻ là một nỗ lực sống còn tâm linh: viết hay là chết lụi tâm hồn.  Lớn hơn một thôi thúc của nhu cầu, viết bằngtiếng mẹ đẻ đối với người đàn bà tha hương là một bản năng sống.  Dạy cho con tiếng nói của mình, bày giải vớithế gian bằng tiếng nói của mình, viết, tức là là suy tư, bằng ngôn ngữ củamình, với người đàn bà viết văn, tiếng nói là mình.
 Ngẫu nhiên mà nhiềuchị em bạn  cầm viết của  tôi giờ mỗi người một phương trời. May mà cóInternet, để thỉnh thoảng thoát ra giòng lưu thông ráo riết ở xứ người,  tôi rẻ vào con đường riêng vắng vẻ, tìm đến mộttrang blog của bạn hay trang báo bạn thường đăng bài, để đọc bạn, gặp bạn, để mừngvui, để ngậm ngùi. Tuy không còn “đàn đúm” như thời còn ở trong nước, (hay thờicòn trẻ tuổi độc thân!), thậm chí đã nhiều năm không gặp mặt,  tôi biết người này vẫn trông người kia, yêntâm phần nào khi thấy bạn mình còn đó. Tác phẩm của bạn như bàn tay bạn chìara, và mình cũng cố chìa ra bàn tay của mình, vói vịn nhau qua không gian ảo màtồn tại.
Dù vậy quê nhà vẫn là điểm hẹn, nơi ta có thể gặp người đọcthật sự của mình. Mùa hội sách năm nay tôi lỗi hẹn, không thể về. Nhưng bạn bè vẫn hội tụ đông vui. Hai tuầntrước,  tôi đã nhận được thư mời đến dựbuổi giao lưu của Việt Linh với độc giả và ra mắt quyển sách mới “Việt LinhChuyện & truyện”. Lúc ấy chị Việt Linh còn ở Pháp. Chị email cho biết đã nhờHoàng Anh ở NXB Trẻ gởi sách tặng  tôi. Tôiđang ở Mỹ, nhờ em  tôi nhận sách dùm. Haichị em chỉ có thể email về “đứa con”  màcả hai chưa thấy mặt mũi, chưa được tận tay cầm nắm vuốt ve. 
Nhưng bằng những file kèm theo email của chị  tôi nhận ra phần lớn bài trong quyển  sách mới này tôi đã đọc rồi, nhiều bài còn lưulại trong máy tính cá nhân. Như  bài “Gừngcay muối mặn” mà  tôi từng dịch miệng choông chồng của  tôi nghe vào một ngày vùngTây Bắc nước Mỹ âm u xám xịt. Như bài “Bà Chúa của Sơn Nam” mà  tôi có cảm giác sau khi đọc như uống ly rượungày giỗ nhà văn, đắng đắng ngọt ngọt. “Biết ông túng thiếu mà tự trọng,nhiều người, trong đó có tôi, hay tặng tiền ông bằng cách khẽ đưa vào túi áo đểông khỏi chạm tay cầm. Thường ông ngó lơ, lí nhí nói “Cảm ơn” hoặc “Tử tếha” rồi lảng qua chuyện khác (…) tôi hiểu Sơn Nam sôi động phù du chỉ là phần nổicủa tảng băng, như hiểu đằng sau tiếng cười ha hả, xác nhận bị vợ đăng tivi tìmkiếm là nỗi cô đơn vô bờ bến. Nỗi cô đơn Sơn Nam”
Có bài do chínhchị gởi sau khi viết, với lời nhắn nhủ là “em phải đọc và học cái gương chị”.Đó là bài “Xin lỗi bản thân” viết bằng tấm lòng của người sống sót sau tai biếnmạch máu não, lo lắng cho những người mình thương yêu có thể mắc bệnh và gặp nạnnhư mình. Nếu ai đã đọc quyển sách trước của Việt Linh, Chuyện mình, chuyện người, thìsẽ nhận thấy sự thay đổi tinh tế mà sâu sắc trong những trang viết của chị từsau bài “Xin lỗi bản thân.”
Hóa ra con đườngcủa chị không cùng không cụt. Trên con đường đó chị dần tìm ra bản thân mình vànó dẫn chị về với người đọc – đồng bào mình. Chúc mừng chị Việt Linh. 


(Bài này của GabeSowa, sinh viên khoa Tâm lý học, đại học Western Washington, Mỹ.  Sau một khóa học về "Việt Nam và Mỹ", Gabe đã sang Việt Nam để làm bài nghiên cứu độc lập về mạng xã hội ở Việt Nam.  Sau đó Gabe viết bài này, tôi xin phép dịch sang tiếng Việt để chia sẻ với  các cư dân mạng VN.)
  
Là một sinh viên Mỹ trưởngthành trong kỷ nguyên số, kỷ thuật internet và mạng xã hội đã đan quyện vào đờisống hàng ngày của  tôi. Thông qua sựchia sẻ mọi thứ, từ hình ảnh đến ý kiến đến những câu chuyện, các mạng xã hộiđã trở thành những phương tiện quan trọng đối với giới trẻ Mỹ không chỉ trong nổlực tạo lập các mối quan hệ mà còn làm cho chúng thêm phong phú.
Trong lúc việc phát triểnvà duy trì những mối quan hệ thông qua mạng xã hội hãy còn khá mới, đã có nhữngnghiên cứu có ý nghĩa chứng minh hùng hồn sự liên kết giữa sự hình thành tínhcách và việc sử dụng internet – giữa cách chúng ta giao tiếp trên internet vàcách chúng ta trả lời câu hỏi “ tôi là ai?” Bài nghiên cứu này chủ yếu tậptrung vào những người được gọi là “cư dân mạng”, hay còn gọi là công dân mạng,Những người dành phần lớn đời mình “sống” trên internet. Bằng cách dùng mạng xãhội để chia sẻ thậm chí từng phút trong cuộc sống của mình, người ta đang địnhnghĩa lại những nhận thức về chính mình trong những phạm vi xã hội cách biệt rấtxa những môi trường đặt nền tảng cho những quan hệ cá nhân theo kiểu truyền thống.
Sau nhiều tháng tìm hiểuvề Việt Nam và mạng xã hội ở tại trường của mình,  tôi những mong nhận ra sự phát triển internettrong nước Việt Nam là một yếu tố kích thích thay đổi xã hội đáng kể. Đồng thời,việc tìm hiểu văn hóa truyền thống của Việt Nam nhấn mạnh vào tầm quan trọng củasự gắn bó gia đình đã khiến  tôi nghĩ làmạng xã hội Việt Nam có lẽ bám lấy đặc tính gia đình là cốt lõi, vừa củng cố vừathay đổi những mối quan hệ truyền thống. Tôi những mong tìm thấy mạng xã hội này dựa vào những hình thức đặctrưng vốn có  ở Việt Nam, một mạng xã hộicó lẽ bám chặt vào các giá trị truyền thống của văn hóa Việt Nam. Thế nhưng điều  tôi thực sự phát hiện khi đặt chân đến thànhphố Hồ Chí Minh là một chuỗi những chuyển động và trạng thái trong cách thức mạngxã hội được tiếp nhận và sử dụng  - vàphân tích các kênh sử dụng này chẳng khác gì tìm cách hiểu giao thông tít mùtrên đường phố Sài Gòn.
Theo tài liệu  tôi nghiên cứu khi còn ở Mỹ thì sự truy cậpinternet là tiện nghi bình thường ở những vùng đô thị như thành phố Hồ ChíMinh.  Tôi cũng hiểu rằng mạng xã hộiđóng một vai trò ngày càng lớn trong các mối quan hệ của giới trẻ.  Tôi đã tìm được cứ liệu tin cậy cho là các mạngxã hội như Zing Me, Yume, và cả Facebook có hàng triệu thành viên ở Việt Nam.Tuy nhiên, khi  tôi bắt đầu phỏng vấn nhữngbạn trẻ Việt Nam trang lứa ở thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Cần Thơ,  tôi phát hiện là đối với người sử dụng,  ít nhứt là đối với những người trẻ, thì mạngxã hội không chỉ là một tiện nghi mà còn là một sự cần thiết. Từ những bạn trẻnói với  tôi là thế giới mà không cóinternet thì sẽ vô cùng “khủng khiếp”, đến những sinh viên thường trực lên mạngxã hội từ bất cứ nơi đâu thông qua điện thoại di động, thì rõ ràng mạng xã hộiđã trở thành một kiểu thức truyền thông và định hình tính cách quan trọng đối vớingày càng đông người Việt trẻ.
Trong một hội thảo thânmật trong quán café ở hà Nội, một sinh viên đã giải thích với tôi ở Việt Nam“cư dân mạng” nên được hiểu như thế nào. Anh nói là mặc dù gia đình anh làm chủmột tiệm café internet và anh chủ yếu lớn lên cùng máy tính, việc sử dụnginternet đối với giới trẻ thường là một thói quen hơn là một ngoại lệ. Anh nóibây giờ ở Việt Nam hiếm ai nói họ không hềxài  internet. Trò chuyện với nhiều sinhviên khác cũng hé cho  tôi thấy một hệ quảkhác của mạng xã hội, đó là quan điểm toàn cầu. Các sinh viên nhấn mạnh là mạngkỷ thuật số đang thay đổi không chỉ những cách thức mà họ tương tác với nhau,mà thay đổi cả cách họ giao tiếp với thế giới. Các bạn gặp ở cuộc hội thảo sốtsắng chỉ ra rằng internet đã  cho họ điềukiện quan tâm đến không chỉ văn hóa Việt Nam mà cả văn hóa toàn cầu khi xuất hiện ở Việt Nam. Các bạn sinh viên ở quán cafécũng nhấn mạnh sự kiện là người Việt đã thích nghi nhanh chóng với sự phổ biếncủa internet, dẫn chứng việc sử dụng internet từ  nghe nhạc đồng quê đến nghiên cứu giải phápcho các vấn đề môi trường rộng khắp thế giới.   
 Trong thời gian ở Việt Nam tôi nhanh chóng hiểura là giới trẻ  Việt Nam – ít nhứt là giớitrẻ ở các thành phố lớn và có trình độ đại học – hội nhập cực kỳ tốt với điềuđược coi là nền văn hóa phi chính thống nổi trội: nền văn hóa internet.  Tôi cũng đã nhận ra điều tương tự ở Mỹ, một nềnvăn hóa phi chính thống bắt nguồn từ việc sử dụng internet, và điều đó đã đóngvai trò quan trọng trong kết hợp kinh nghiệm toàn cầu và trải nghiệm cá nhân.Nhưng khám phá ra mạng xã hội Việt Nam còn có đặc điểm gì khác là một công việc đầy thách thức. Việc dùng internet để thám hiểmnhững ranh giới mới và những hình thức diễn cảm mới vốn không tồn tại trước khimạng xã hội ra đời  có thay đổi hay củngcố phẩm chất Việt Nam gì đó như thế nào?
Tôi đã cố gắng tìm hiểuđiều này trong một cuộc phỏng vấn với những người quản trị mạng Yume.vn , một mạngxã hội ở thành phố Hồ Chí Minh có hơn ba triệu thành viên. Yume thể hiện nổ lựctạo cho người Việt một lối thoát trên mạng để diễn tả suy nghĩ, cảm xúc, nhận định,phân tích những vấn đề  thiết thân nhứt đốivới họ. Bằng cách cho bất cứ người viết Việt Nam  nhiệt tình nào cũng mở được blog cá nhân trênmạng này, Yume nhấn mạnh vào kiểu thảo luận những vấn đề phức tạp nhưng mạch lạcmà internet cung cấp nếu sử dụng đúng.  Cộngđồng và quan hệ cộng đồng, cũng giống như nhiều khía cạnh khác của xã hội ViệtNam, được mạng xã hội Yume chú trọng - và bằng  một hình thức và một thiếtkế chuyên nghiệp để cho mạng này hấp dẫn và dễ  tiếp cận.
Những cuộc thảo luận sâuhơn với sinh viên Việt Nam cho thấy giới trẻ Việt Nam, cũng giống như giới trẻMỹ, muốn chia sẻ mọi thứ, với nhau và với cả thế giới. Sinh viên Việt Nam dườngnhư tin vào khả năng của internet giúp được họ,  cũng như đất nước họ, phát triển và đóng nhữngvai trò quan trọng trên sân khấu toàn cầu. Là những người lãnh đạo tương lai củathế giới này giới trẻ có trách nhiệm làm cho đất nước mình, và thế giới, trởthành một nơi tốt đẹp hơn cho những thế hệ tương lai. Sự phát triển đã khiến thếhế chúng  tôi trở thành “công dân mạng”cho thấy internet là phương tiện của tương lai để chia sẻ những câu chuyện, nhữngý tưởng, những viễn tượng về thế giới của chúng ta. 



Blog EntryMar 19, '12 12:08 PM
for everyone

“Đồ mới tốt hơn đồ cũ, như cơm mới ngon hơn cơm cũ.”
Chưa chắc. Một kẻ ưa cải ở trong tôi cố phản biện: cơm chiênbằng cơm cũ một ngày ngon hơn cơm mới nấu đem chiên, cơm cũ để lên men ba ngàythành cơm rượu ăn là say, và rượu mà để năm mười hai chục năm, càng cũ càngngon. Đồ cũ biết chế biến biết xài có khi tốt hơn đồ mới. 
Cải cho vui, chứ  tôitừng trải niềm vui sướng, thích thú, sự thoải mái, sảng khoái, khi xài đồ mới,từ mặc chiếc áo mới may, ăn rau trái mới hái trong vườn, nằm trên cái giường trảinệm drap mới tinh, nhập tên mình vô cái máy tính “brand new”. Mới – thường cùngnghĩa với tươi, trẻ, còn nguyên, do vậy cùng gần gũi với tốt, ngon, đẹp, tiến bộ.  Và sang giàu nữa, đương nhiên, vì phải có  tiền mới sắm được đồ mới. Coi quảng cáo kìa,cái gì cũng nhấn mạnh là “mới”, kiểu dáng mới, công dụng mới, hàng mới về,  chưa “bóc tem”.  Cái tâm lý chuộng mới phổ biến hẳn nhờ công lớncủa kỷ nghệ quảng cáo trong xã hội tiêu thụ.
 Tôi cũng từng trảiqua nỗi buồn buồn, tủi tủi khi phải xài đồ cũ. Không kể nỗi bực dọc, ngao ngán,ngượng ngùng với những thứ đồ cũ hỏng hóc, khiếm khuyết, kém chất lượng. Cuốithập niên 1980  tôi sắm được cái xe gắnmáy “nghĩa địa” để đi dạy, một cái xe “Cánh én 81” giá tương đương ba lượngvàng,  tính ra mắc hơn một chiếc Honda mớitoanh bây giờ. Nhưng thời đó nước mình chỉ nhập xe cũ, có xài là mừng rồi. Xengười ta xài rồi thải ra thế nào cũng có trục trặc gì đó,  tôi với ông thợ sửa xe đầu đường trầy trậtnhiều phen mới khiến nó chạy êm được mấy năm. Lúc đó nước mình bắt đầu nhập xemới, xe đỏ xe tím bóng loáng sáng choang, cái xe “đồ xài lại” của mình đã cũcàng cũ thê lương, không buồn không tủi sao được?
Bây giờ  tôi khôngmàng xe cộ nữa, dù mới dù cũ. Nhưng có lẽ vì già, hay trở thành lớp “người cũ”chăng, mà  tôi dần dần bớt phấn khích trướcnhững thứ mới lấp lánh, mà nhận ra mình có xu hướng bênh  “đồ cũ”. Đôi giày cũ mang quen chân, đi đường xa không bị rộp da bong gân như khimang đôi giày mới, Cái ghế cũ  ngồi riếtnó biết tư thế của mình nên lõm đúng chỗ mình ưa tựa vào; ngồi đúng cái ghế đómới có cảm giác thân thuộc, thoải mái, an tâm và có cảm hứng viết. Máy tínhcũng vậy, mỗi lần máy cũ trục trặc phải sắm máy mới cứ cảm  giác như ở trọ nhà ai, sống với người lạ, chẳngbiết ứng xử ra sao, đồ đạc của mình chẳng biết để chỗ nào.
  Hai mươi năm trước  tôi dọn từ nhà cũ trong hẻm sang “nhà mới” ởchung cư, một căn hộ đã có người ở trước khi tôi dọn vào, nghĩa là cũng là nhà cũ. Đã cũ còn hoang tàn: người ở trướcđó, khi dọn đi đã gỡ cả cửa kính, gạch bông, vòi nước, ván ốp tường… nói chunglà những thứ tháo gỡ được. Đó là thời ghế gỗ ở công viên cũng bị gỡ làm củi chụmvà hàng rào song sắt thì đem cân ký bán ve chai. “Nhà mới” chỉ là một khônggian trống lốc lưng chừng một chung cư. Ưu điểm duy nhứt là nó rộng rãi, có nắngsớm rọi vào, gió chiều thổi qua, và ban đêm thấy được trăng sao trên trời.Ba  tôi và em  tôi sửa sang dần cửa nẻo tường sàn, để nóthành nhà, là nơi mọi người trong gia đình trở về, nơi trú ngụ an toàn dù ngoàitrời mưa bão. 
Năm tháng qua, ba  tôibây giờ  không thể  lên cầu thang để về nhà trên tầng 3 chung cưnữa, gia đình  tôi dọn về nhà cũ trong hẻm, đã được em  tôi giở ra xây lại, nên coi cũng mới. Đạikhái là dùng vật liệu mới dựng lại không gian cũ, nơi chị em chúng  tôi đã sống qua tuổi thơ và tuổi trẻ. Em  tôi mua giường mới cho ba, ghế mới có bánh xecho ba tiện xê dịch, một số đồ đạc cũng mua mới để phù hợp với nhu cầu của ngườigià bệnh. Mấy tháng đầu nằm trên giường ba cứ hỏi đây là đâu, chị em  tôi ngày nào cũng ôn bài cho ba: “Đây là nhàmình ở Dòn Mé Sán, đối diện trước cửa là nhà A Khòn, trong này là bếp, kia là cầuthang lên gác.” Khi ba ngồi dậy được, chị em tôi đẩy xe đưa ba đi vòng vòng trong xóm để ông nhớ lại nhà nào của ai.Bây giờ ba đã nhớ ra hết, ai ở nhà nào, sinh sống ra sao, con cháu thế nào.
Ba không chịu nằm trên giường nữa, đòi đem cái ghế bên “nhàcũ” ở chung cư qua, cái ghế mà ba vẫn quen ngồi coi tivi bao nhiêu năm. Nhữngthói quen cũ của ba dần dà được thiếp lập lại: Cái tivi để trước cái ghế, ba mởtivi rồi nghoẹo đầu ngủ. Cái giường trở thành nơi bày các vật dụng thường dùng,thành giường là nơi treo máng các bao ny lông đựng các thứ thuốc tây, thuốc bắc,thuốc dán, dầu xoa… Áo quần thì vắt trên thành ghế hay treo trên cây mắc mùng,trong tầm tay vói. Mền gối la liệt chung quanh, thức dậy là ba xếp mền xếp gốilại theo một trật tự nhứt định mà đôi lần tôi thử  xếp cho gọn thì ba kêulà  tôi làm “lung tung” hết. Cuối cùng,dường như ba đã cảm thấy đúng là mình đang ở nhà mình, khi không gian chungquanh ba trở nên quen thuộc với những thứ cũ kỹ ở trong một trật tự cũ xưa.
Cách đây một năm  tôivẫn đau đáu trong lòng một giấc mơ là mua một ngôi nhà mới ở ngang mặt đường đểba  tôi đỡ cực khi lên xuống ba tầng cầuthang chung cư. Khi ba té và phải đưa ba về nhà trong hẻm Dòn Mé sán, trongkhông gian chật chội  tôi đã dằn vặt mìnhlà cả đời không có nổi một cái nhà cho ra hồn. Nhưng tám tháng ngồi cạnhba  tôi hằng đêm, nhìn ba  tôi hồi phục dần trí nhớ, ổn định dần sức khỏe,an cư dần trong không gian quen thuộc của mình, và thanh thản với nhịp sống đơngiản: ăn, ngủ, tiêu, tiểu, và thở,  tôiđã nghĩ quanh đi quẩn lại có một điều: người ta có cần nhiều hơn thế?

Lý Lan

Blog EntryMar 14, '12 12:27 PM
for everyone

Khi  tôi viết bài này thì đã chiều ngày 8tháng 3 ở Sài Gòn. Tới ngày báo in ra chắc cái “ngày phụ nữ” ấy đã lùi vào xó bếp.Nếu  tôi lại viết về phụ nữ nữa, có lẽban biên tập sẽ treo nó lên giàn bếp chờ đến (ngày giỗ) sang năm. Dù vậy  tôi vẫn viết, vì đang trong dòng suy nghĩ về   những gìphụ nữ  đang làm ở khắp nơi trên thế giới.
Ở nước NewZealand, nơi phụ nữ có quyền bỏ phiếu từ năm 1893, có quyền ứng cử vào quốc hộitừ năm 1919, đến nay đất nước  có bốn triệurưởi dân này đã có hai vị nữ thống chế toàn quyền (governor-general), hai vị nữthủ tướng, 43 trong số 100 công ty hàng đầu trên thị trường chứng khoán NewZealand có nữ giám đốc. Thế nhưng nữ tiến sĩ Jenifer Curtin của Trung tâm Nghiêncứu Lao động và Xã hội trong kỷ nguyên Toàn cầu của đại học Monash ở Melbourne,Úc, cho rằng “Chúng ta còn cả một con đườngdài phải đi” mới đưa được xã hội tới chỗ bình đẳng giới, vì trên toàn thếgiới, phụ nữ lãnh đạo quốc gia chỉ chiếm 13% và chỉ có 19% chính khách giữ vịtrí dân cử là nữ.  
Đầu thế kỷtrước, phụ nữ giàu hầu hết là nhờ tài sản thừa kế. Ngày nay phụ nữ tự mình tạonên sự nghiệp để trở thành triệu phú, và tỷ phú, không còn hiếm hoi. Danh sáchnhững nữ tỷ phú tự lập năm 2011 bao gồm: J.K.Rowling, tác giả Harry Potter; MegWhitman, người sáng lập eBay; Doris Fisher, người sáng lập hãng thời trang Gap;Giuliana Benetton, đồng sáng lập tập đoàn Benetton; Oprah Winfrey, hoạt độngtrong lãnh vực truyền thông và giải trí; Chu Lam Yiu, sáng lập công ty hương liệu;Rosalia Mera, nhà thiết kế thời trang, chủ chuỗi cửa hàng Zara. Tên tuổi nhữngnữ tỷ phú này quen thuộc với công chúng trước tiên nhờ tài năng trong công việchọ làm (nhà văn, diễn viên, nhà thiết kế…). Cũng trong danh sách này có 7 nữ tỷphú ở Trung quốc, đều giàu lên nhờ bất động sản. Câu hỏi là nảy sinh: Đã cóthay đổi đáng kể về con số phụ nữ giàu có tột đỉnh, còn đối với đại đa số phụ nữnghèo khổ trong tối tăm, đã có thay đổi gì chăng?
Ba tỷ phụ nữvà em gái ở Ấn Độ, Trung quốc, Phi châu, Nam Mỹ, Đông Nam Á, và Việt Nam sẵnsàng nắm lấy bất cứ cơ hội nào dù nhỏ nhứt để mong đổi đời, thực hiện giấc mơvà hy vọng của mình. Họ học hành trong điều kiện bất lợi để có tri thức và nghềnghiệp, họ tiện tặn dành dụm để có vốn liếng khởi nghiệp, họ bươn chải không quảnngại khó khăn cực nhục để kiếm miếng ăn cho con cái, họ làm tất cả và không ngừngvươn lên. Nhiều tổ chức xã hội và tài chánh tầm quốc gia và  quốc tế đã có những chương trình hổ trợ để phụnữ tham gia vào sự phát triển, nhưng sự bất bình đẳng giới trong quyền lực vàquyền lợi vẫn khiến phụ nữ đi lòng vòng trong nghèo khó. Theo Poverty Matters Blog (“blog Nghèo thành vấn đề”, do quĩtừ thiện của người giàu nhứt thế giới Bill & Melinda Gates tài trợ), thì “Nếu phụ nữ và bé gái thực sự được đặt vàotrung tâm của những nỗ lực phát triển, thì một khởi điểm tốt là đừng hỏi phụ nữvà bé gái có thể làm gì cho sự phát triển, mà hãy đặt vấn đề là sự phát triểncó thể làm được gì cho họ.”
Mỗi xã hộicó vấn đề riêng của xã hội ấy, người ta hay nói vậy. Chẳng hạn ở nước Ả RậpSaudi, vấn đề của phụ nữ không phải là dầm mưa dãi nắng đi bán hàng rong, phụ hồ,lội ruộng cấy lúa. Xứ này đủ giàu và sỉ diện để không cho phụ nữ ra chốn công cộnglàm những việc “của đàn ông”. Như la cà quán xá hay lái xe chẳng hạn. Phụ nữ màlái xe ra đường thì bị phạt đánh 10 roi, hoặc bị ở tù. Vì vậy phong trào phụ nữ  ở các nước Ả Rập là đòi quyền lái xe hơi. Tôinhớ  năm 2000 tôi có đến một nước Hồigiáo ở Trung Đông, tất cả cửa hàng tiệm quán đều do đàn ông đứng bán, kể cả tiệmbán áo quần và đồ lót phụ nữ.  Vậy sao tiệncho phụ nữ mua sắm?  Tôi thấy phụ nữ vàotiệm luôn có đàn ông đi kèm, thậm chí tôi thấy các ông đi một mình tự lựa mua đồ lót cho phụ nữ. (Hẳn nhiênông ta biết kích thước người đàn bà của mình!) Hôm nay nhận được thư bạn cho biếtnhờ nhiều cuộc vận động kiên trì, cuối cùng bộ trưởng lao động nước này đã chophép phụ nữ được làm việc như nhân viên trong các cửa hàng bán đồ lót phụ nữ, kểtừ năm nay (2012).
Thế giới nàyđã không thể thay đổi nếu phụ nữ không thay đổi. Có những người đối phó vớiphong trào nữ quyền bằng cách chêm những gương mặt phụ nữ vào những bức tranhđa số đàn ông theo một tỷ lệ hay chỉ tiêu nào đó, để cho thấy xã hội mình cũngvăn minh phát triển. Nhưng vấn đề vẫn ở chính người phụ nữ. Bài báo “Phụ nữ tạosự thay đổi” trên smh.com.au  ngày8/3/2012  viết về bà Jill Wash, người đã“tự nhấc” mình lên từng bậc thang quản lý trong một quá trình lao động và tranhđấu mấy chục năm, từ khi đi làm ở tuổi đôi mươi. Thời đó không ai nghĩ là phụ nữmà làm quản lý. Nhân viên nữ thường bị đồng nghiệp nam sàm sỡ, nếu báo cáo vớisếp thì sếp (toàn là đàn ông) giải quyết là nên cười xòa bỏ qua, coi đó là sựtán dương, người đẹp mới được chọc ghẹo! Bà Wash muốn làm sếp nhưng chung quanhkhông có mô hình nữ quản lý nào cả. Bà tự tìm con đường đi, là người phụ nữ đầutiên trở thành tổng giám đốc tập đoàn ARM của Úc. Bà nói: “ Tôi muốn ở vị trínày vì  tôi làm giỏi công việc  tôi đang làm, không phải vì  tôi là đàn bà hay tôi cần đạt một chỉ tiêu.”



Blog EntryMar 7, '12 11:15 AM
for everyone

Thời sự  tôi quan tâmnhững ngày này là phụ nữ và trẻ em. Đọc lướt qua những tin  trên các báo điện tử ở Việt Nam hôm nay: “Nữ sinh 13 tuổi mang bầu”, “Gã tài xế xe ôm có ‘máu dê’”, “Giao trứng cho ác”,  “Khi thầygiáo cuồng dâm với học sinh của mình”, những cái tựa vô thưởng vô phạt, thậm chí nghe như bông phèng, mà nộidung là những vụ hiếp dâm trẻ em hàng loạt. Cũng là tin hiếp dâm dưới những cái tựa như vầy: “Chủ tịch Hội Nông dân xã xâm hại trẻ em”, “Thiếu nữ bị hãm hại trong quán karaoke”, “Thiếu nữ cắn lưỡi vì bị cưỡng bức tập thể”, “Thiếu nữ vật lộn với ‘yêu râu xanh’ trong nhà nghỉ”. Luật pháp nướcViệt Nam cũng như luật pháp hầu hết các nước trên địa cầu ngày nay đều coi hànhvi hiếp dâm là hành vi tội ác chống con người, gây hại trầm trọng và lâu dàicho nạn nhân. Hiếp dâm là hiếp dâm, không phải “xâm hại”, không phải “hãm hại”,không phải  “cưỡng bức”, cũng không phải“vật lộn”. Kẻ hiếp dâm là kẻ hiếp dâm,  sao lại né tránh là “yêu râu xanh”, hay  “có máu dê”?
Gọi đúng tên sự việc là điều tối cần thiết trong thông tin. Nhữngcách đưa tin qua những cái tựa trên tạo cảm giác về sự ỡm ờ của phương tiêntruyền thông – một bộ phận quan trọng mang tính phản ánh đồng thời hướng dẫn dưluận – đối với hành vi tội ác này.  Nạnnhân của hiếp dâm trên lý thuyết  có thểlà người thuộc bất  cứ tuổi tác hay giớitính nào, nhưng tuyệt đại đa số người bị hiếp dâm mà báo đài nêu ra hay đanggây “xôn xao dư luận” là phụ nữ , đặc biệt trẻ em gái. Những chi tiết các bàibáo còn cho biết là những phụ nữ và em gái này đa số nghèo, bơ vơ , ỏ nôngthôn, ít học.  Trong khi và sau khi bị hiếpdâm những nạn nhân này sợ hãi im lặng vì bị kẻ hiếp dâm đe dọa. Trong nhiều trườnghợp, kẻ hiếp dâm không phải là kẻ xa lạ, mà là người trong thân tộc, hàng xóm,bạn bè, người quen biết.
 Tôi thấy không cầnbàn cãi gì nữa về khía cạnh đạo đức của hành vi hiếp dâm, không có bất cứ cơ sởvăn hóa hay truyền thống gì đứng vững được nếu chống đỡ hành vi hiếp dâm. Mộtbài trên phapluatvn.vn tường thuật trường hợp một em gái khuyết tật vị thànhniên (sinh 1995) ở huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi,  bị người hàng xóm hiếp dâm khi em 14 tuổi. Bịbắt quả tang phạm tội, kẻ hiếp dâm chỉ nộp phạt 300.000 đồng và một con heo chocả làng ăn nhậu , theo lệ làng. Gần đây em gái  lại bị chính dượng ghẻ hiếpdâm. Trưởng công an huyện Sơn Hà trình bày: ‘Khả năng vụ việc sẽ dừng điều tra và có thể sẽ được xử lý theo hướng kếthợp luật pháp cùng luật tục.’ Theo đó, kẻ hiếp dâm được trả về địa phươngvà nộp phạt một con heo cùng một ít tiền.   
 Tôi biết còn những hủtục trong những làng xã xa xôi của đất nước Việt Nam đang phát triển,nhưng  tôi không tin hiến pháp và luậtpháp Việt Nam  nhân nhượng một hủ tục chàđạp phụ nữ như vậy. Càng không tin nỗi chính quyền và đảng cầm quyền bất lựctrước một hủ tục khuyến khích tội ác như vậy. Tôi cám ơn người đã nêu sự việc này ra, nhưng  tôi tự hỏi tại sao người viết kết luận: “Quả là đáng buồn khi mà nhận thức pháp luậtcủa người dân nơi đây còn hạn chế như thế, thì tội ác vẫn còn có nơi để ẩn náu dung thân.” Sao lại buồn ngườidân khi chính trưởng công an huyện thi hành luật pháp như thế!. Nếu “nhói lòng”đối với nạn nhân và nhận ra sự việc vi phạm pháp luật để phơi bày ra dư luận,sao lại dùng thứ văn chương mị dân này: “bégái bị làm nhục nhưng ‘yêu râu xanh’ thoát tội vì luật tục.” Tại sao báopháp luật mà không nói đúng là bé gái bị hiếp dâm và những kẻ hiếp dâm vẫnhoành hành vì những người thi hành luật pháp không làm tròn nhiệm vụ?
Còn đây là cách thức các báo đài khác khai thác tin về tộiác hiếp dâm. Bản tin cập nhật ngày 1/3/2012 trên Vietnamnet.vn  gồm luôn trongbài có tít  “Nữ sinh 13 tuổi mang bầu” chuyện một em học lớp 6 ở thành phố Thái Bình, đã bị một người đàn ông 65 tuổi “nhiều lần quan hệ tình dục” (LL: chữdùng trong bài, thay vì viết đúng là hiếp dâm nhiều lần suốt 10 tháng) khiến emmang bầu và sanh con khi chưa đủ 13 tuổi; và một em 12 tuổi ở tỉnh Bình Phước bị“một thanh niên ở khác xã hãm hiếp nhưnganh ta dọa giết nên không dám nói với ai”. Chuyện em gái ở tỉnh Bình Phướcđược những trang báo khác khai thác thành một loạt bài với những cái tít:  “Bé 12tuổi mang bầu 5 tháng, mẹ mới biết con bị cưỡng hiếp”, “Gia cảnh bé 12 tuổi bị cưỡng hiếp có thai 5tháng”, “Độc già VNExpress giúp bé12 tuổi bị cưỡng hiếp 70 triệu đồng”, kèm links dẫn tới  “Tâm sựcủa bé 12 tuổi mang thai 5 tháng” và “chândung kẻ cưỡng dâm” với tít  “Kẻ cưỡng hiếp bé 12 tuổi thích rình xem phụnữ tắm”.  Tôi có cảm giác như  báo chí đang đùa. Lẽ nào  xem một đứa trẻ  không cha, nghèo đói, bị hiếp dâm, buộc phải bỏhọc, sắp làm mẹ,  như đề tài câu khách.
Để chống lại tội ác hiếp dâm và những kẻ gây tội ác này đốivới phụ nữ, không chỉ cần một luật pháp nghiêm minh, mà còn cần một dư luận xãhội lành mạnh công bằng đối với phụ nữ, coi phụ nữ là con người. Điều này cần mộtnền giáo dục về công bằng xã hội và công bằng giới tính mà báo chí có thể đóngmột vai trò lớn. Bằng cách xác định quan điểm và  thái độ của người cầm viết và tờ báo  đối với một tội ác xã hội như hiếp dâm và bấtbình đẳng giới tính, chúng ta viết từ sự tôn trọng pháp luật, tôn trọng con người,tôn trọng công bằng và lẽ phải trong một xã hội mà chúng ta muốn cho văn minhvà nhân đạo hơn. Chúng ta không thể giả mù sa mưa,  khều khều  xoa xoa, hay né tránh cho yên thân. Cách đây mộttuần có một bài viết hiếm hoi của Tuệ Khanh trên VNMedia.vn  đặt rõ ràng vấn đề hiếp dâm đang lan tràn sâurộng như một đại nạn trong xã hội hiện nay. Nhưng hai từ chính xác đại nạn ấy lạiđặt trong ngoặc kép. Cuối bài VnMedia hứa hẹn sẽ “tìm câu trả lời trong nhữngbài viết sau” mà rồi không thấy có thêm bài viết nào nữa.  Tôi vẫn chờ những bài viết đó nhưng không thểchỉ chờ mà thôi.

Lý Lan


Sherlock Holmes thuộc loại nhân vật hư cấu sống daihơn người thật và ngày càng to lớn hơn nguyên mẫu được tác giả sáng tạo. Sinhthời nhà văn Anh  Arthur Conan Doyle (1859-1930)viết tổng cộng chỉ hơn năm mươi truyện ngắn và bốn truyện dài về tay thám tửtài ba có trí thông minh siêu việt tên là Sherlock Holmes, thế nhưng từ đó đếnnay người ta đã làm hơn 200 phim  truyệnvà vô số phim truyền hình khai thác từ nhân vật lừng danh này. Tất nhiên ngườita không thể đơn giản nhai đi nhai lại nguyên tác . Nhiều thế hệ  tác giả kịch bản đã không ngừng vẽ rắn thêmchân. Chẳng hạn trong phim Tuổi trẻSherlock Holmes sản xuất  trong thậpniên 1980 rất nổi tiếng ở Mỹ, kể chuyện học hành quậy phá và phiêu lưu củaSherlock thưở là học sinh một trường nội trú ở Anh. Phim này chỉ có tên nhân vậtlà thuộc bản quyền của Doyle.
Mặc dù không nổi tiếng bằng Frankenstein và Dracula,nhưng Sherlock Holmes đã vượt ra giới hạn nhân vật tiểu thuyết để trở thành huyềnthoại /  truyền thuyết dân gian. SherlockHolmes trở thành đại diện cho một thứ lớn hơn và căn cơ hơn  nhân vật thám tử thông minh trong một loạt truyện trinh thám do Doyle sáng tạo:trở thành nguyên mẫu điển hình của một người điều tra xuất sắc dùng trí thôngminh sắc sảo để phá án. Kỳ phùng địch thủ của ông là những  kẻ thông minh ngang ngữa, nhưng lại dùng trítuệ để vi phạm luật pháp.  Vì vậy nhữngcâu chuyện  Sherlock Holmes thường là nhữngcuộc đấu trí thú vị,  đào sâu mối quan hệgiữa trí tuệ và đạo đức, đặt vấn đề “lương tâm” trong trật tự xã hội, để “thiệnthắng ác”, được sự tán thưởng của công chúng tử tế. 
Một thoáng liếc qua bối cảnh xã hội những câu chuyệnSherlock Holmes có thể giúp việc thưởngthứctác phẩm.  Arthur Conan Doyle sống và viết vào thời nữhoàng Victoria trị vì nước Anh, một thời thịnh trị  được sử gia gọi  là thời đại Victoria.  Thời đó cuộc cách mạng kỷ nghệ bắt đầu ở Anhvà những thành tựu nhanh chóng thay đổi suy nghĩ và lối sống con người;  kiến trúc, văn học, nghệ thuật, giáo dục đềuphát triển ngoạn mục;  xã hội gia tăngnhu cầu hưởng thụ, chuộng sự “sang trọng”, “trí thức”. Mặt khác, dân số tăngnhanh, cách biệt giữa các tầng lớp dân chúng ngày càng lớn, người nghèo chenchúc trong những khu nhà ổ chuột , trẻ em lao động vất vả, đỉ điếm nhan nhản,trộm cắp như rươi, kẻ giết người hàng loạt nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Sựcách biệt, tương phản của xã hội này được phản ảnh trong  tác phẩm của hai nhà văn tiêu biểu cho thời này là Charles Dickens, William MakepeaceThackeray.
 Arthur ConamDoyle cũng là nhà văn nổi tiếng đương thời, nhưng không chú trọng phản ảnh vàphê phán hiện thực như Dickens và Thackeray. Tác phẩm của Doyle mở đường cho mộtthể loại văn học mới: truyện trinh thám, mà nhiều nhà phê bình văn học xếp vàoloại văn học giải trí, hay văn học đại chúng.   Người khó tánh không chịu xếp Doyle nganghàng với Dickens và Thackeray.  Ngày nay,trong khi tác phẩm của Dickens và Thackeray được đọc ở trường học thì tác phẩmcủa Doyle chiếm lĩnh sân khấu, ti vi, điện ảnh, và Sherlock Holmes nổi tiếng khắpĐông Tây Nam Bắc suốt cả thế kỷ nay và không ngừng được sáng tạo lại. Mới đâynhứt là phim Sherlock Holmes: A Game ofShadows (đã chiếu ở các rạp thành phố HCM với tựa Sherlock Holmes và trò chơi của bóng đêm).
Trong phim mới này có đủ thứ không hoàn toàn ăn nhậpvới nhau: các nhân vật chính nói năng ăn mặc kiểu Victoria, mà có nhà phẫu thuậtđồ nhựa có thể thay đổi hoàn toàn hình dạng con người, lại có những doanh nhânsản xuất vũ khí Đức, và có cả những dân hát rong tụ tập ở ngoại ô Paris, lẫnquí ngài đại sứ đến từ triều đình các nước châu Âu. Tuy nhiên tất cả đều đượcgài vô cuộc đọ sức giữa hai trí tuệ siêu việt là Sherlock Holmes và giáo sưMoriarty, được coi là tội phạm cực kỳ thông minh ở Âu châu vào cuối thế kỷ thứmười chín.  Với giàn diễn viên ăn kháchAnh và Mỹ, phim nhắm vào khán giả trẻ, cỡ tuổi trung học,  đạo diễn đẩy tốc độphim nhanh,  giữ được độ căng thẳng, xàinhiều phù phép kỷ thuật, và có đủ những màn đánh đấm, nổ tung, chết người.
Sherlock Holmes trong sách của Doyle có biết một thứvõ thuật Nhựt bổn mà ông gọi là “baritsu”, không hiểu là võ gì, còn Sherlocktrong phim, do Robert Downey  Jr. đóng,thì chơi nhuần nhuyễn võ thuật của phim Hồng Kông, gia vị  bằng kiểu ứng phó nhanh nhạy sắc cạnh như điệpviên James Bond. Tận dụng kỷ thuật của cả ba lĩnh vực phim hành động, gián điệp,và trinh thám, những nhà sản xuất cũng ráng giữ được tính chất cốt lõi của thươnghiệu Sherlock Holmes: hơn thua bằng trò đấu trí, bắt đầu  từ những chi tiết tầm thường nhứt  phăng ra những vấn đề lớn lao, dùng trí tuệ phithường giải quyết vấn đề cực kỳ bí ẩn phức tạp, để cứu vãn trật tự thế giới.Sherlock trong phim giống nhân vật  phimhành động cậy nhờ nắm đấm hơn một quí ông Ăng lê chững chạc đường hoàng  củathế kỷ mười chín. Mà có thể ý đồ của nhà sản xuất là tân tạo  hình ảnh Sherlock Holmes như một anh hùnghành động  thế kỷ hai mươi mốt.
Trong buổi chiếu phim cuối tuần mà đa số khán giả tuổidưới hai mươi, ai bận tâm đến hiện thực xã hội đầy bi hài kịch thời kỷ nghệ hóavà phát triển? Ai bỏ tiền và thì giờ để nghiền ngẫm những  cuốn sách như Hội chợ phù hoa  của Thackerayhay Câu chuyện hai thành phố củaDickens? Ngay cả Sherlock Holmes của Doyle cũng không chắc tồn tại nếu khôngthay đổi: trong bộ phim mới này, để chinh phục khán giả trẻ, Sherlock Holmes khôngchỉ  thông minh hơn, mà phải khôn hơn,lanh hơn, mạnh hơn (không kể trẻ hơn và đẹp trai hơn) đối thủ. 

Blog EntryFeb 13, '12 4:51 PM
for everyone

Hàng rào bện bằng tre, xiên xẹo như thể bị giậu dâm bụt ănhiếp. Cánh cổng cũng là tre đan, cũng xộc xệch, như thể sản phẩm của người vụngvề, không biết nghề. Cũng có thể người ta cố tình như thế. Chẳng phải có một thứnghệ thuật phá cách, chống lại sự ngăn nắp, ngay ngắn, chặt chẽ, đúng nguyên tắc,bài bản? Nhưng chắc gì những người sống bên trong cánh cổng này là nghệ sĩ tràolưu hậu hiện đại? Hiện thực có khi giản dị như vầy: Người ta đã dựng hàng ràovà cánh cổng này với khả năng, thời gian và nguyên liệu có sẵn hoặc dễtìm.  Miễn sao chúng đạt được yêu cầu chứcnăng, nói nôm na là xài được.
 Tôi đưa tay đẩy cánhcổng. Nó xục xịch  ngắc ngứ.  Tôi phải dùng hai tay cẩn thận nhấc nó hổng mặtđất, khẻ khàng dịch vô trong vài tấc. Tôi la lên: “Cổng vầy mà cũng làm cổng! Trộm nó đạp một cái là sập!” Chủnhà hiện ra từ  trong thâm u dưới mái nhàthấp, cười nói hồn nhiên: “Khép cổng cho gà qué đừng ra ngoài té mương.” À, ravậy. Chứ trộm cắp đâu mà lo.  Tôi đứng lượngsượng vì đã “nghĩ bậy” cho người khác, kiểu nghĩ của người thành thị bo bo giữcủa, luôn  lo lắng nghi kỵ kẻ muốn vô nhàmình. Chủ nhà cầm tay  tôi dắt vô khoảnhsân đầy nắng, ngang qua ba bốn trái mít đang phơi, mỗi trái cỡ cái thúng.
Lối đi từ cổng đến thềm nhà bằng đất, có mấy miếng gạch bể“lót chân”. Gạch lún xuống bằng mặt với nền đất, vẫn còn giữ được màu đỏ đấtnung, có chỗ rêu xanh lún phún, nền đất chung quanh còn dấu chổi chà quét qua, nhưnhững đường vân song song mảnh mai mơ hồ. Những miếng gạch lót chân được sắp xếp ở những vị trí và khoảng cách hếtsức vừa vặn bước chân người đi thong thả, hình thành một bức tranh, hay một “sắpđặt” đẹp mắt khó giải thích.  Tôi thử đingược lại từ thềm nhà ra cổng, đặt chân đúng vào từng miếng gạch, tự kiểm nghiệmtâm thế mình trải qua mười bốn bước ấy. Đứng trên miếng gạch cuối cùng  tôi nhìn con đường chạy qua trước cánh cổngtre, men theo con kênh gần khuất dưới tán xanh um của cây mọc ven bờ.
Con đường hơi cong cong, khuất tầm mắt ở bụi tre cách đó chừngtrăm thước, phía bờ kênh có cây xoài đầy lá non đứng chen với hàng khuynh diệp,cây nào cũng lộ rõ dấu tích thường xuyên bị hái lá bẻ cành. Trong nhà ắt có ngườicon gái trẻ tóc dài, thường gội đầu bằng lá khuynh diệp. Hoặc người đàn bà luốngtuổi hay đau nhức, nên tắm/xông  bằng lákhuynh diệp.  Lá xoài non là một thứ rausạch, ăn sống, vị chua chua, rất ngon. Bờ đất thoai thoải từ gốc xoài xuốnggiáp mặt nước là một vạt rau mà rau lang là chủ lực. Nó gợi ý mâm cơm chiều códĩa rau lang luộc và tộ cá chốt kho. Nó khiến con đường vắng vẻ gợi ý về, ngườivề, và trông đợi người về, chứ không khơi nỗi háo hức đi, ra đi, hay tìm kiếm ởđâu khác.

 Tôi đứng trên mấy miếnggạch lót chân ở cổng ngước nhìn lên những tán cây cau và chút trời xanh mây trắngthấp thoáng sau những tàu lá đung đưa.  Chắclà có người thường đứng chỗ này nhìn ra mặt nước kênh êm ả trôi, vầng trăng nonsớm treo lên ngọn cây khi chiều còn hầm hơi trong những trái mít. Dướichân  tôi ba miếng gạch dường như lún sâuhơn mặt đất. Có thể nỗi ưu tư của người thường đứng đây hơi nặng.  Tôi xoay lại, chiêm nghiệm tâm tình của nhữngbước chân chậm rãi trở lại bậc thềm. À, những miếng gạch lót chân. Chủ nhà cườixòa với nhận xét của  tôi về tác phẩm “sắpđặt” đầy tính nghệ thuật và khoa học: Chẳng qua là năm kia nhà hàng xóm xây lại,bỏ ra những tấm gạch tàu bể, mình lượm về kê trên nền đất thường ẩm ướt của lốiđi. Ngày ngày đi qua đi lại, tiện tay sửa cho vừa chân, đâu có ý đồ nghệ thuậtgì.
Sự thật ấy không bất ngờ. Cũng không hy hữu.  Tôi đi vòng qua hàng lu nước xếp thành dãybên hè, thầm cảm ơn chủ nhà đã không theo thời cho đúc những “ống” chứa nướchình trụ bằng bê tông như đa số nhà trong vùng. Một “ống” nước bê tông  như vậy có dung tích bằng cả chục cái lu, chỉmột hay hai cái sau nhà là chứa đủ nước mưa để dùng trong mùa khô. Cái “ống” bêtông có những ưu thế mà không ai phủ nhận được, nên phổ biến nhanh chóng. Nhữngcái lu ngày xưa chở bằng ghe từ lò gốm Lái Thiêu về ngày càng thất thế, nhiềunhà xây xong ống bê tông là chuyển đổi chức năng cái lu, hoặc tìm cách bỏ đicho đỡ chật chỗ. Những cái lu bị bỏ đi, nói nào ngay, đều có khuyết điểm: hoặcsứt mẻ, hoặc nứt nẻ, hoặc rò rỉ hư hao kiểu nào đó. Chúng được thu gom về ngôinhà này. Cái được trét xi măng hàn lại, cái được ràng rịt bằng kẻm, cái giữnguyên trạng của cái lu được xài mấy chục năm, mòn láng ở chỗ người ta tựa vàokhi chồm qua miệng lu vét nước dưới đáy.
Người đã “sắp đặt” những cái lu ấy vẫn cười hì hì: Xài lu cũđỡ tốn tiền,  với lại cả nhà đã quen uốngnước chứa trong lu kiểu này. Người chuyển qua xài nước chứa trong ống bê tônghay nước máy mới nhận ra nước chứa trong lu đá hay lu da lươn có hương vịriêng. Nhiều người chấp nhận đánh mất hương vị ấy để đổi lấy tiện nghi. Nhiềungười còn cho rằng đó là mùi vị của nhà quê, kém vệ sinh, của nghèo nàn lạc hậu,cần phải thoát ra bằng mọi giá. Mỗi người mỗi ý.   Dãy lu bên hè ít nhứt cũng giữ được nét quenthuộc thân thương của một  ngôi nhà rấtbình thường  ở vùng  đất khắc nghiệt này, cứ mùa khô đến  đất xì phèn nước kênh nhiễm mặn. Giá trị mỹthuật của nó có lẽ, như chủ nhà nói, chỉ mới nghe  tôi bày ra.
 Tôi nghĩ chủ nhà là mộtnghệ sĩ chân chính mà không tự biết, hay không tự nhận. Hoặc thẩm mỹ kiến trúccủa  tôi có vấn đề.

Blog EntryJan 30, '12 11:37 AM
for everyone

Ngày xưa ở tuốt bên xứ Ấn Độ có rất nhiều chim chóc thú rừng.Nhiều loài sống bí mật trong hang sâu giữa rừng thẳm, không ai biết hành tung củachúng ra sao cả.
Một hôm có một đám người tham ăn tính đi săn thỏ nhưng lại bắtđược một con rùa.
Con rùa này già lắm, có lẽ đã sống lâu tới một trăm năm. Maicủa nó dày cui, nứt nẻ, mốc thích.
Khi bị bắt, con rùa thụt hết đầu cổ tay chân vô trong mai vànằm im ỉm trong đó. Nó không nhúc nhích nhưng nó lắng nghe.
Đám thợ săn lật tới lật lui con rùa, nhưng không biết làmsao để làm thịt nó.
Một người bảo liệng con rùa vô tảng đá thiệt cứng thiệt tocho cái mai vỡ ra. Nhưng mấy người khác không đồng ý, tiếp tục bàn cãi.
Người già nhứt đám nói: “Lấy búa bữa nó ra.” 
Người già thứ nhì nói: “Chất lửa chung quanh nó mà đốt.”
Một người chưa già lắm nói: “Khỏi mất công! Chỉ cần đâm câynhọn vô mấy cái lỗ dưới cái mai là nó phải chết thôi.”
Một người còn trẻ nói: “Tiện nhứt là liệng nó xuống nước chonó chết ngộp!”
Con rùa nghe vậy vội la lớn: “Ối trời ơi! Đập vô đá, lấy búabữa, chất lửa đốt, đâm bằng cây nhọn… là đã quá khủng khiếp rồi, nhưng dù đau đớntôi cũng ráng chịu được. Chứ liệng xuống nước cho chết ngộp thì thiệt là kinhkhủng quá, xin đừng đối xử với tôi như vậy, tôi sợ bị liệng xuống nước lắm.”
Đám thợ săn nghe rùa nói vậy bèn cười hô hố: “Đã thế thìchúng tao cứ liệng mày xuống nước!”
Cả đám hè nhau bưng con rùa liệng xuống hồ nước.
Vừa chạm mặt hồ, rùa lập tức thò hết đầu cổ và bốn chân ramà bơi như điên.
Vừa bơi rùa vừa cười như điên: “Ha ha ha… “
  Đám thợ săn lúc đó mớibật ngữa ra là mình đã mắc mưu con rùa. Lẽ ra họ nên biết con rùa là động vậtbơi giỏi. Nhưng bây giờ biết ra thì đã muộn rồi. Họ tức điên luôn!
Lý Lan kể lại chuyệncổ Ấn Độ

Blog EntryJan 22, '12 6:51 PM
for everyone
                                              cầu mong đất nước thanh bình, người người an lạc